Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh vĩnh phúc giai đoạn 2009 2010

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cơ cấu việc làm theo ngành bao gồm ba bộ phận cấu thành, bộ phận
thứ nhất là việc làm trong ngành nông nghiệp- đó là các việc làm được tạo ra
trên cơ sở các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành nông lâm nghiệp
như: hoạt động sản xuất trong chăn nuôi, trồng trọt, trồng rừng và các hoạt
động kinh doanh dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp. Bộ phận thứ
hai là việc làm trong ngành công nghiệp xây dựng- đó là các việc làm được
tạo ra trên cơ sở các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp
xây dựng như: hoạt động khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên thiên
nhiên sẵn có trong lòng đất, hoạt động gia công và chế biến sản phẩm có
nguồn gốc từ nông lâm nghiệp, hoạt động xây dựng trong các ngành xây dựng
và các dịch vụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất trên. Bộ phận thứ ba là
việc làm trong ngành dịch vụ- đó là các việc làm được tạo ra trên cơ sở các
hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ nhà hàng, du lịch, khách sạn…
Trong quá trình hoạt động sản xuất các ngành kinh tế có mối quan hệ
tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển dẫn tới việc làm giữa các
ngành kinh tế cũng có có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển và hướng tới mục tiêu chung là tạo ra nhiều việc làm trong
nền kinh tế. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành là tăng nhanh tỷ trọng việc
làm trong ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ và giảm dần tỷ trọng việc
làm trong ngành nông- lâm nghiệp.
Cơ cấu việc làm theo khu vực: Cơ cấu việc làm theo khu vực là sự
tương quan giữa việc làm theo khu vực với nhau, thể hiện mối quan hệ hữu cơ
và mối quan hệ qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa việc làm trong khu
vực này với việc làm trong khu vực kia.
Nếu như cơ cấu việc làm theo ngành được hình thành trên cơ sở chuyên
môn hóa sản xuất thì cơ cấu việc làm theo khu vực lại được hình trên cơ sở
việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Mỗi khu vực kinh tế là một bộ
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phận tổ hợp của nền kinh tế quốc dân, do đó sự khác nhau về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi khu
vực có những đặc thù, những thế mạnh riêng trong việc tạo ra việc làm cho
người lao động. Cơ cấu việc làm theo khu vực phản ánh thế mạnh của từng
khu vực, nó bao gồm hai bộ phận như sau: bộ phận thứ nhất là việc làm trong
khu vực nông thôn- đó là các việc làm được tạo ra chủ yếu dựa trên thế mạnh
sản xuất nông lâm nghiệp. Bộ phận thứ hai là việc làm trong khu vực thành
thị- đó là các việc làm được tạo ra chủ yếu dựa trên thế mạnh trong hoạt động
sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Các bộ phận có mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, mối quan hệ này bao
hàm cả về số lượng và chất lượng.
3. Thất nghiệp và các hình thức thất nghiệp
3.1. Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại trong nhiều chế độ
xã hội.
Thất nghiệp theo đúng nghĩa của từ là, mất việc làm hay là sự tách rời
sức lao động khỏi tư liệu sản xuất.
Một số quan niệm khác cho rằng thất nghiệp là hiện tượng gồm những
người mất thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm, trong khi họ
còn trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng
ký ở trung tâm môi giới nhưng chưa được giải quyết.
Theo tổ chức lao động quốc tế( ILO): thất nghiệp là tình trạng tồn tại
khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể
tìm được việc làm ở mức tiền lương đang thịnh hành.
Bên cạnh thất ngiệp còn tồn tại những người có việc làm không đầy đủ
hay còn gọi là thiếu việc làm, đó là những người đang có việc làm nhưng do
nguyên nhân nào đó họ không sử dụng hết thời gian lao động theo quy định
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống, muốn tìm thêm
việc làm. Hiện tượng này tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển như
Việt Nam.
3.2. Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp hữu hình: Thất nghiệp hữu hình là tình trạng thất nghiệp
xảy ra khi một bộ phận lực lượng lao động có khả năng và sẵn sàng làm việc
nhưng không tìm được việc làm. Đây là hình thức thất nghiệp mà ta có thể
nhìn thấy, hình thức thất nghiệp này chủ yếu xảy ra đối với lao động ở khu
vực thành thị, nơi hình thức lao động làm công ăn lương là chủ yếu.
Thất nghiệp trá hình: Hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những
đặc trưng cơ bản của của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Đây là
tình trạng xảy ra khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà
bình thường người lao động sẵn sàng làm việc, hay nói cách khác là tình trạng
sử dụng không hết thời gian lao động. Hình thức thất nghiệp này xảy ra đối
với cả lao động làm việc ở khu vực thành thị và nông thôn.
Trong khu vực thành thị hình thức thất nghiệp này tồn tại dưới các
dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu
nhập cho xã hội mà chủ yếu là tạo ra thu nhập đủ sống( nhiều khi dưới mức
sống tối thiểu). Trong khu vực nông thôn thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại
dưới dạng thiếu việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông
nghiệp, do khu vực kinh tế phi nông nghiệp nông thông phát triển chậm và do
tính thời vụ của việc làm nông nghiệp. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, ở
một số vùng nông thôn do lấy đất nông nghiệp để xây dựng các công trình
công cộng, phát triển công nghiệp và nhà ở nên đã xuất hiện tình trạng thất
nghiệp trá hình.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thất nghiệp tạm thời: hay còn gọi là thất nghiệp cơ cấu, là hình thức
thất nghiệp trong thời gian chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì
muốn tìm việc làm tốt hơn, sinh viên ra trường đi tìm việc.
Thất nghiệp tự nguyện: là hình thức thất nghiệp ẩn náu trong những
người làm nội trợ trong gia đình do các mức tiền công thấp không đủ bù đắp,
thường là phụ nữ.
II. TẠO VIỆC LÀM VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1. Tạo việc làm
Thực chất của việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao
động và tư liệu sản xuất bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng. Tuy
nhiên đó mới chỉ là những điều kiện cần thiết để có được việc làm. Hay nói
cách khác những điều kiện về tư liệu sản xuất và sức lao động mới tồn tại như
một khả năng. Muốn biến khả năng thành hiện thực cần phải có môi trường
thuận lợi cho sự kết hợp hai yếu tố đó. Việc tạo ra môi trường là vai trò quản
lý nhà nước trong lĩnh vực việc làm. Thực tế chỉ ra rằng, khi khả năng quản lý
nhà nước yếu kém nhiều việc làm được tạo ra nhưng không hiệu quả, năng
suất thấp.
Do vậy, tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành
các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để
có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và
người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển
đất nước.
Hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tư
liệu sản xuất: Môi trường cho sự kết hợp các yếu tố bao gồm hệ thống các
chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách khuyến khích thu hút người
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lao động, chính sách bảo hộ sản xuất, chính sách thất nghiệp, chính sách
khuyến khích và thu hút vốn đầu tư, hệ thống các dịch vụ việc làm…
Thực hiện các giải pháp để phát triển việc làm và việc làm có hiệu quả
cao: Các giải pháp này có thể kể đến các nhóm giải pháp về quản lý và điều
hành, các biện pháp khai thác có hiệu quả công suất của máy móc thiết bị cải
tiến công nghệ, duy trì và nâng cao chất lượng của sức lao động, kinh nghiệm
quản trị kinh doanh của người sử dụng lao động…
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động
2.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu thổ nhưỡng, đất đai…
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có công tác tạo
việc làm của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương.
2.1.1. Vị trí địa lý:
Do đặc điểm tự nhiên mà mỗi địa phương đều nằm trên những vị trí
địa lý nhất định, từ đó mà có những đặc điểm khác biệt về khí hậu, thời tiết,
nhiệt độ, lượng gió, lượng mưa, bão lụt…ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất,
kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông lâm ngư nghiệp vì thế nó có thể cho
phép mỗi địa phương hình thành một phương thức tổ chức sản xuất, lao động
khác nhau.
Những vùng có vị trí thuận lợi thì cây cối xanh tươi, bốn mùa hoa trái,
có các loại cây con hải sản hết sức đa dạng phong phú. Với điều kiện đất đai
màu mỡ con người có thể phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp chế biến… xuất khẩu các mặt hàng đặc sản quý hiếm trên thị trường
quốc tế. Đây cũng chính là những lợi thế nhất định của mỗi địa phương trong
việc tạo ra công ăn việc làm thu hút người lao động.
Tuy nhiên có những vùng vị trí không thuận lợi sẽ ảnh hưởng xấu đến
lao động sản xuất: hạn hán, lũ lụt…những vùng địa hình chia cắt, giao thông
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không thuận lợi, vùng không chịu sự phát triển lan tỏa từ các vùng kinh tế lân
cận cũng gây khó khăn cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư giải quyết công
ăn việc làm.
2.1.2. Khí hậu
Ở mỗi vùng, địa phương, quốc gia có những đặc điểm tự nhiên ảnh
hưởng rất lớn tới khí hậu của mỗi quốc gia. Ngay trong một quốc gia những
vùng khác nhau cũng có khí hậu khác nhau. Nhiệt độ nóng lạnh, mưa gió bão
lụt, độ ẩm… là những đặc trưng cơ bản của khí hậu của mỗi vùng, miền, quốc
gia. Ở mỗi quốc gia khí hậu ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến các vấn
đề kinh tế xã hội, khí hậu có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của dân cư, phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt khí hậu ảnh hưởng đến sự phát
triển của nông nghiệp, quyết định cây con mùa vụ, canh tác, năng suất cây
trồng… do đó khí hậu ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động.
Với những địa phương mà khí hậu ưu đãi có thể tạo ra nhiều công ăn
việc làm một cách dễ dàng qua việc phát triển nông, công nghiệp chế biến
bằng cách thâm canh tăng vụ, tạo ra nhiều ngành nghề mới gắn bó chặt chẽ
với nông nghiệp.
Tuy nhiên những địa phương có khí hậu không thuận lợi thường xuyên
hạn hán lũ lụt, mưa gió bất thường… như các tỉnh miền trung cũng gây không
ít khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm giảm sút thậm chí cướp không
những thành quả lao động của mọi người. Vì vậy tổ chức tạo việc làm cho
người lao động ở các địa phương này gặp không ít khó khăn.
2.1.3. Đất đai, hầm mỏ, sông ngòi, núi non
Đất đai, hầm mỏ, sông ngòi núi non là những đối tượng lao động sẵn có
của thiên nhiên cho mỗi địa phương. Có thể nói đất đai, như William petty đã
viết “ lao động là cha và đất đai là mẹ của của cải”. Các nguồn tài nguyên này
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phong phú sẽ có cơ hội phát triển nhiều khu công nghiệp, trang trại nông lâm
nghiệp chiếm ưu thế của vùng.
Vai trò của đất đối với lao động việc làm cực kỳ quan trọng. Đất đai
giúp phát triển nông, lâm nghiệp và các ngành công nghiệp chế biến từ các
sản phẩm nông nghiệp; đất đai cho phép xây dựng các công trình xây dựng,
nhà ở, cụm công nghiệp. Từ đó gián tiếp tạo ra rất nhiều công việc khác nhau
cho con người.
Về tài nguyên dưới lòng đất, hầm mỏ cũng rất quan trọng với việc tạo
ra việc làm cho con người. Các loại khoáng sản dưới lòng đất như than đá,
vàng, thiếc, sắt nhôm… Giúp con người phát triển các ngành công nghiệp
khai thác, chế biến từ các sản phẩm khai thác, từ đó tạo nhiều việc làm cho
con người.
Các loại tài nguyên khác như sông ngòi, núi non cũng giúp con người
tạo ra nhiều công ăn việc làm bằng cách phát triển các ngành nghề khai thác,
nuôi trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp…
Như vậy có thể nói những tiềm năng trên cho phép chúng ta tổ chức
phân công lao động tạo ra hàng trăm nghìn loại hình công việc khai thác từ
các lợi thế tài nguyên trên. Với các địa phương có các điều kiện ưu đãi về tài
nguyên thiên nhiên sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn cho con người, và
ngược lại với những địa phương không có các điều kiện ưu đãi về tài nguyên
thiên nhiên sẽ ít có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho con người.
2.2. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế tăng trưởng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ
tiết kiệm dành cho tái sản xuất và do đó ảnh hưởng vốn đầu tư sản xuất cho
giai đoạn sau của nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng cao, tỷ lệ tiết kiệm dành
cho tái suất cao, vốn đầu tư sản xuất cho giai đoạn sau cao, và như như vậy
quy mô sản xuất nền kinh tế được mở rộng, quy mô việc làm cũng được tăng
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
theo. Và ngược lại tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, tỷ lệ tiết kiệm cho tái sản
xuất thấp, vốn đầu tư thấp, quy mô sản xuất không được mở rộng thêm thậm
chí bị thu hẹp để cắt giảm chi phí, việc làm mới không được tạo thêm thậm
chí còn gia tăng tỷ lệ mất việc làm do bị sa thải.
Xuất khẩu sản phẩm: Các địa phương có lợi thế về xuất khẩu sản phẩm
sẽ giúp các địa phương đó phát triển những ngành có lợi thế riêng. Kim ngạch
xuất khẩu sản phẩm cao sẽ đóng góp vào GDP cao, góp phần tăng trưởng
kinh tế, mở rộng quy mô các ngành có lợi thế riêng, từ đó mở rộng quy mô
việc làm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động.
Và ngược lại các địa phương nào không có lợi thế để xuất khẩu sản
phẩm thì ít có cơ hội phát triển kinh tế, mở rộng quy mô ngành kinh tế có lợi
thế, từ đó ít có điều kiện tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Tái cơ cấu kinh tế: Việc cơ cấu lại kinh tế có ảnh hưởng đến việc bố trí,
sắp xếp lại lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Một mặt tái cơ cấu kinh tế làm
giảm số lượng việc làm trong nền kinh tế quốc dân. Thực chất của tái cơ cấu
kinh tế là việc bố trí sắp xếp lại ngành nghề sản xuất kinh doanh sao cho hợp
lý, cân đối phù hợp với thế mạnh của từng vùng, miền. Như vậy trong một
chừng mực nào đó thì tái cơ cấu sẽ giảm nhu cầu về lao động hoặc dôi dư một
số lao động do không đáp ứng được yêu cầu của ngành nghề mới.
Mặt khác tái cơ cấu kinh tế cũng có tác dụng làm tăng thêm nhu cầu về
lao động, tức là tăng thêm nhu cầu về việc làm. Việc cơ cấu lại kinh tế góp
phần phát triển, mở rộng quy mô trong mỗi ngành nghề mà mỗi vùng, địa
phương có thế mạnh. Nhiều ngành nghề mới ra đời nhờ lợi thế so sánh và đầu
tư của chính phủ nhằm tăng cường năng lực sản xuất phục vụ trong nước và
xuất khẩu. Đương nhiên nhu cầu lao động tăng thêm và từ đó tạo thêm việc
làm cho người lao động.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3. Nhân tố về công nghệ, chính sách thu hút vốn đầu tư tạo việc làm
Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng lớn đến việc tổ chức lao động sản xuất. Hoạt động lao động của con
người phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố, tiến bộ khoa học kỹ thuật, máy móc
thiết bị, công cụ lao động và công nghệ sản xuất. Để có việc làm với năng
suất chất lượng cao, cần phải có kỹ thuật, máy móc thiết bị, công cụ lao động,
công nghệ tiên tiến. Khoa học công nghệ cải tiến quy mô sản xuất, nâng cao
năng suất lao động giúp kinh tế phát triển, quy mô nền kinh tế mở rộng tạo
điều kiện giải quyết được nhiều việc làm cho lao động. Nhưng khoa học công
nghệ phát triển cũng sẽ góp phần tạo ra nhiều việc làm có năng suất chất
lượng cao, sử dụng ít lao động chân tay và đòi hỏi người lao động phải có
trình độ chuyên môn, hay đòi hỏi trình độ chất xám từ người lao động nhiều
hơn. Và như vậy người lao động không có trình độ sẽ có nguy cơ mất việc và
không tìm được việc làm cao hơn. Nhưng tác động tiêu cực này chỉ có thể xảy
ra khi nền kinh tế áp dụng trình độ khoa học công nghệ ở mức cao.
Tuy nhiên có một tác dụng tích cực nữa là việc ứng dụng khoa học
công nghệ đã và đang tạo ra nhiều ngành nghề mới trong xã hội, mà trước đây
loài người chưa từng biết tới( công nghệ điện tử và tin học). Ngành nghề mới
và quy mô của mỗi ngành không ngừng mở rộng đã tạo cho con người những
việc làm mới trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài lĩnh vực truyền thống
như công, nông nghiệp còn phát triển nhiều lĩnh vực mới về công nghệ mới,
dịch vụ… Tuy nhiên ngành nghề mới này cũng đòi hỏi người lao động phải
có trình độ, tiêu chuẩn nghề nghiệp cao hơn nhiều so với trước.
Chính sách thu hút vốn đầu tư tạo việc làm: Vốn đầu tư là nhân tố quan
trọng hàng đầu để mở rộng quy mô sản xuất trong nền kinh tế. Trong lĩnh vực
sản xuất vật chất muốn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động yếu tố
đầu tiên là vốn đầu tư. Việc thu hút vốn đầu tư phụ thuộc rất lớn vào chính
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách thu hút vốn. Nếu chính sách thu hút vốn đầu tư thông thoáng thì càng thu
hút được nhiều vốn, càng có điều kiện tạo ra nhiều chỗ việc làm mới. Ngược
lại chính sách thu hút vốn không thông thoáng, vốn đầu tư càng ít và càng ít
có điều kiện tạo ra nhiều việc làm mới.
2.4. Tốc độ đô thị hóa
Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động do các trung tâm công nghiệp, trường học, dịch vụ mọc lên
nhiều. Nhưng đô thị hóa kèm theo dân số nhập cư tăng nhanh gây khó khăn
cho giải quyết việc làm, đồng thời đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng các cụm khu công nghiệp, công trình
công cộng… đã khiến không ít người lao động dựa vào canh tác đất rơi vào
tình trạng mất việc và khó tìm được việc làm mới.
Tóm lại, khung lý thuyết được trình bày trong chương này sẽ cung cấp
đầy đủ những cơ sở lý luận cần thiết về việc làm, tạo việc làm và các nhân tố
ảnh hưởng đến tạo việc làm để nghiên cứu, phân tích thực trạng của giải quyết
việc làm và từ đó có cơ sở đưa ra những giải pháp cần thiết để giải quyết việc
làm cho người lao động của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010. Cụ thể phần lý
thuyết này sẽ được sử dụng làm cơ sở để phân tích đánh giá trong chương hai.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét