thấp, quản lý hoạt động KH&CN còn mang tính hành chính .Vì vậy việc tiếp tục
phát triển KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc là yếu tố khách quan.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng KH&CN tiếp tục phát triển nhanh, mạnh với
trình độ ngày càng cao. Kinh tế trí thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình
phát triển lực lợng sản xuất, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan những yếu
tố đó đã và đang tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để nớc ta đẩy nhanh phát triển
KH&CN phục vụ cho phát triển đất nớc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa(XHCN).
Từ thực tiễn phát triển KH&CN ở nớc ta, xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, xu
thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới và tác động to lớn của cuộc cách mạng KH&CN
hiện đại hiện nay, tôi chọn đề tài Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển khoa
học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đaị hoá đất nớc từ
năm 1996 đến năm làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Phát triển KH&CN là một vấn đề có phạm vi rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều
ngành khoa học. Thời gian vừa qua đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập dới các góc độ,
các ngành khoa học khác nhau nh về: phát triển khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và
nhân văn (KHXH&NV), khoa học công nghệ và vai trò của nó trong phát triển
KT_XH.
Dới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã có một số công trình
nghiên cứu về vai trò của KH&CN trong phát triển công nghiệp, trong CNH,HĐH
nông thôn; phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng (XHCN). Tuy
nhiên, đến nay vẫn cha có một đề tài nghiên cứu chuyên san và hệ thống về ĐCSVN
lãnh đạo phát triển KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc. Vì vậy, luận
văn này sẽ trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với phát triển
KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc từ năm 1996 đến năm 2005.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
+ Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong
lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KH&CN. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm bớc đầu về quá
trình lãnh đạo phát triển KH&CN trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc từ năm
1996 đến năm 2005.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Khẳng định cơ sở lí luận, thực tiễn, yêu cầu khách quan của việc phát triển KH&CN
trong thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc.
Làm rõ chủ trơng, quá trình chỉ đạo, thành tựu, hạn chế và bớc đầu rút ra một số kinh
nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo và phát triển KH&CN trong thời kì đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nớc từ 1996 đến 2005. 4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về phát triển KH&CN trong
thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc.
Thời gian: từ năm 1996 đến năm 2005.
5. Cơ sở lý luận, nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối quan điểm của
Đảng làm cơ sở lý luận nghiên cứu.
Luận văn khai thác chủ yếu các tài liệu từ Văn kiện, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc, Nghị quyết hội nghị trung ơng, Nghị quyết Bộ chính trị khoá VIII, IX của Đảng
và một số t liệu nghiên cứu, tổng kết của các nhà khoa học.
Luận văn sử dụng phơng pháp lịch sử, phơng pháp lô gíc và sự kết hợp giữa phơng pháp
lịch sử và phơng pháp lô gíc; ngoài ra còn kết hợp phơng pháp lịch đại, đồng đại, so
sánh, tổng hợp làm phơng pháp nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn:
Luận văn hệ thống hoá chủ trơng và sự chỉ đạo của Đảng về phát triển KH&CN
trong thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc( 1996 2005).
Khái quát những thành tựu và hạn chế từ đó rút ra những kinh nghiệm bớc đầu trong
quá trình lãnh đạo phát triển KH&CN thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc.
Thành công của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu giảng dạy bộ môn
khoa học Lịch sử CSVN trong các nhà trờng trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có 2 chơng, 4 tiết.
CHƯƠNG 1
Yêu cầu khách quan và chủ trơng của Đảng về phát triển Khoa học và Công nghệ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc từ năm 1996 đến năm 2005
1.1Vai trò của Khoa học và Công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khoa học :
Khoa học (science) là một hệ thống tri thức bao gồm những quy luật về tự nhiên,
xã hội và t duy đợc tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, đợc thể hiện
bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Theo đó bản chất của khoa học là hệ
thống tri thức mang tính quy luật bao gồm cả hai chức năng nhận thức và cải tạo thế
giới. Có những cách hiểu không giống nhau về khoa học.
Theo hỏi và đáp những vấn đề then chốt của KH&CN (NXB Thanh niên Hà Nội
1997 ) Khoa học là toàn bộ sự hiểu biết về bản chất và quy luật vận động của tự
nhiên, xã hội và t duy [10.8] nó tìm kiếm các quy luật vận động khách quan chi phối
đến các hiện tợng tự nhiên, xã hội và t duy. Nh vậy có thề hiểu khoa học dới 3 góc độ:
Khoa học là hệ thống các tri thức bản chất và quy luật vận động của tự nhiên, xã
hội và t duy.
Khoa học là một hệ thống các thiết chế khoa học, mạng lới các cơ quan nghiên cứu
khoa học và quản lý khoa học.
Khoa học là một hoạt động xã hội đặc biệt sản xuất ra tri thức khoa học [10.8]
Theo sổ tay sơ giải một số từ thông thờng khoa học là toàn bộ những tri thức của
loài ngời về những quy luật tự nhiên, xã hội và t duy đã đợc tích luỹ trong quá trình
lịch sử và đợc thực tiễn kiểm nghiệm [20.140,141]. Hình thức biểu hiện chủ yếu của
tri thức khoa học là lý luận có khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự
nhiên, xã hội và t duy (triết học Mác Lê-nin). Có khoa học nghiên cứu những quy luật
vận động và phát triển của một loại vật chất cụ thể hoặc của một bộ phận trong đời
sống xã hội. Khoa học đợc chia thành hai lĩnh vực cơ bản là khoa học tự nhiên và khoa
học xã hội, mỗi lĩnh vực có thể chia thành nhiều bộ phận riêng biệt.
Theo luật KH&CN Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000 Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện t-
ợng, sự vật, quy luật của tự nhiên và xã hội và t duy [19.680]
Với cách đặt vấn đề trên, có thể khái quát: Khoa học là hệ thống tri thức của loài ngời
về các quy luật tự nhiên, xã hội và t duy nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng các
hiểu biết đó vào thực tiễn.
Khoa học đợc chia làm 3 loại: khoa học tự nhiên (KHTN); khoa học xã hội và nhân
văn (KHXH&NV) và khoa học kỹ thuật-công nghệ. KHTN là các ngành khoa học nghiên
cứu về các hiện tợng và quá trình tự nhiên bao gồm các ngành khoa học nh: toán học, vật lý
học, hoá học, sinh học KHXH &NV là các ngành khoa học nghiên cứu các hiện t ợng và quá
trình xã hội nh kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, luật học, sử học Khoa học kỹ thuật
-công nghệ gọi là khoa học công nghệ là các ngành khoa học nghiên cứu các quy trình vận
động, các kiến thức khoa học và kỹ thuật nhằm mục đích tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã
hội.
Công nghệ:
Thuật ngữ công nghệ (technologi) có xuất xứ từ 2 từ trong tiếng Hylạp cổ. Techno
có nghĩa là tài năng, nghệ thuật, kỹ thuật, sự khéo léo. Logi có nghĩa là lời lẽ, ngôn
từ, cách diễn đạt, học thuyết. Nh vậy ngay từ nghĩa gốc công nghệ đã bao hàm trong
đó yếu tố khoa học và yếu tố kỹ thuật.
Theo tổ chức phát triển Công nghệ của Liên hợp quốc (UMDO): Công nghệ là việc áp
dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý
một cách hệ thống, có phơng pháp.
Định nghĩa này nhấn mạnh tính khoa học là thuộc tính của công nghệ và khía cạnh
hiệu quả khi xem xét việc sử dụng công nghệ cho một mục đích nào đó, tuy nhiên,
định nghĩa này chỉ đề cập trên giác độ của một tổ chức phát triển công nghệ.
Theo Luật KH&CN Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000 công nghệ là tập hợp các phơng pháp,
quy trình, khả năng, bí quyết, công cụ, phơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực
thành sản phẩm [19.680]
Trong thực tế đặt ra cần phải có một định nghĩa thống nhất khái quát đợc bản chất và
nội dung của công nghệ:
- Một là: Công nghệ là sự ứng dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học
đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngời
- Hai là: Công nghệ là các phơng tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hoá các tri thức
ứng dụng khoa học.
- Ba là: Công nghệ là một tập hợp các cách thức, các phơng pháp, quy trình có cơ sở
khoa học để tạo ra các sản phẩm. Công nghệ có nhiều yếu tố hợp thành, tựu trung là
yếu tố con ngời (tri thức, trình độ, tay nghề, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin) và các
yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật (công cụ lao động và đối tợng lao động).
Với cách đặt vấn đề nh vậy có thể định nghĩa: Công nghệ là quá trình vận dụng các
kiến thức khoa học và kỹ thuật nhằm biến đổi các nguồn nhân lực thành sản phẩm.
Theo đó công nghệ đợc thể hiện thành 4 phần cơ bản nh sau:
- Phần trang thiết bị bao gồm máy móc, nhà xởng tức là phần cứng của công nghệ.
- Phần con ngời bao gồm kỹ năng, tay nghề của đội ngũ nguồn nhân lực để vận hành,
điều khiển nà quản lý dây chuyền công nghệ.
- Phần thông tin bao gồm (dữ liệu, t liệu, dữ kiện) nh các lý thuyết, các khái niệm, bí
quyết kỹ thuật, các công thức, các quy trình, các phơng pháp, các bản thiết kế.
- Phần quản lý tổ chức: bao gồm các hoạt động về phân phối nguồn lực tập trung, mạng
lới sản xuất, tuyển dụng và khuyến khích nhân lực
Các thành phần trên của công nghệ có vị trí khác nhau nhng bổ sung cho nhau tạo nên
sự biến đổi của công nghệ, trong đó con ngời là yếu tố trung tâm.
Phát triển KH&CN
Hoạt động KH&CN theo định nghĩa của tổ chức khoa học, giáo dục và văn hoá
(unesco) của Liên hợp quốc là toàn bộ các hoạt động có liên quan mật thiết đến sự ra
đời và phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN [21.34]
Hoạt động KH&CN đợc dựa vào các yếu tố mà trong các tài liệu quốc tế thờng đợc gọi
tắt là 5M, đó là nhân lực (Men), máy móc thiết bị (Machine), vật liệu(Matevia), tiền
đầu t (Money) và quản lý (Management).
Theo luật KH&CN Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X, kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000 cho rằng: hoạt động KH&CN bao gồm
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng
kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển
KH&CN [19.680.681]
Theo đó, phát triển KH&CN là: sự biến đổi về số lợng và chất lợng hoạt động KH&CN
trên các mặt, để phát triển KT-XH, tăng chất lợng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá
hằm mục đích phát triển tối u các nguồn lực.
Phát triển KH&CN ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra tiềm lực KH&CN có số l-
ợng và chất lợng đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn phát triển.
1.1.2. Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Phát triển KH&CN là một xu thế khách quan, đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nớc, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển KT-XH phấn đấu đa nớc ta
trở thành nớc công nghiệp vào năm 2020.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: qua 10 năm đổi mới và phát triển KT-
XH, chúng ta đã cơ bản hoàn thành mục tiêu của chặng đờng đầu tiên của thời kỳ quá
độ là tạo ra tiền đề KT-XH (phát triển nông nghiệp, tích luỹ vốn, phát triển nguồn nhân
lực ). N ớcta đã có đủ điều kiện để bớc sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nớc.
Trong thời kỳ mới, để thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH,HĐH đất nớc, yêu cầu khâch
quan đặt ra là chúng ta phải phát triển KH&CN, đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng
dụng các thành tựu của KH&CN vào sản xuất và đời sống. Chỉ có phát triển KH&CN
thì mới có thể xây dựng nớc ta thành một nớc có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất ra sức phấn đấu đ a nớc ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp vào năm 2020.
Mục tiêu đó đợc thực hiện và hoàn thành theo đúng kế hoạch khi chúng ta đẩy mạnh
phát triển KH&CN, phát huy vai trò động lực của KH&CN trong phát triển KT-XH,
củng cố quốc phòng, an ninh. Trong điều kiện nớc ta vừa bớc ra khỏi cuộc khủng
hoảng KT-XH, sự phát triển còn cha vững chắc. Phát triển KH&CN nhằm khơi dậy
trong nhân dân lòng yêu nớc, ý chí quật cờng, phát huy tài trí của ngời Việt Nam,
quyết tâm đa nớc nhà ra khỏi nghèo nàn lạc hậu bằng KH&CN [6.107]. Đa nền kinh
tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, đồng thời chủ động hội
nhập, tranh thủ thời cơ, tiếp thụ KH&CN tiên tiến để phát triển nhanh lực lợng sản
xuất, trên cơ sở đó xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, đẩy mạnh sự nghiệp
CNH,HĐH đất nớc.
Vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, hầu nh tất cả các nớc đều có chiến lợc,
chính sách nắm bắt thời cơ, tiếp thu và áp dụng nhanh những thành tựu của
cuc cách mng KH&CN hin i, c bit l công ngh thông tin phát
trin lc lng sn xut, nâng cao trình nn kinh t công nghip lên kinh t
da v o tri th c. Tri thc ng y c ng tr th nh y u t quyt nh i vi tng
trng kinh t, to vic l m, nâng cao i sng nhân dân. nc ta, phát
trin tri thc l y nhanh v rút ng n quá trình CNH,HH theo hng i,
ng li i mi ã la chn, nhm thc hin mc tiêu xây dng mt xã hi
công bng, dân ch, vn minh. Phát trin kinh t tri thc l n m bt, vn dng
nhng tri thc mi, nhng th nh t u mi nht v KH&CN, v t chc qun lý
sn xut, kinh doanh y mnh hn na công cuc i mi trên c s to
dng kinh t tri thc. thc hin y nhanh v rút ng n quá trình
CNH,HH t nc, chúng ta phi quan tâm v thúc y KH&CN phát
trin,phát huy vai trò ca KH&CN trong phát trin KT_XH, to s bt phá
trong thi k y mnh CNH,HH t nc, thc hin chính sách phát trin
bng v d a v o con ng i nh Ngh quyt trung ng 2 khóa VIII ã ch ra.
Do ó, phát trin KH&CN không chỉ là đòi hỏi mà còn là nhu cầu khách quan,
biện pháp hữu hiệu để thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH,HĐH đất nớc, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạnh KH&CN đang phát triển nhanh và
ngày càng tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của nền kinh tế thế
giới.Thành tựu khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại đã và đang giúp nhân
loại hiểu sâu sắc hơn về tự nhiên, về quy luật phát triển của xã hội và con ngời.
Sự phát triển nhanh chóng về tri thức khoa học là động lực thúc đẩy nhân loại
đạt đợc tiến bộ trong chinh phục thiên nhiên, quản lý hiệu quả các quá trình xã
hội và phát huy tốt hơn vai trò tích cực, sáng tạo của loài ngời, đa nhân loại
đến một nền văn minh mới văn minh trí tuệ. Đối với nớc ta, thực hiện
CNH,HĐH từ xuất phát điểm thấp, nền nông-công nghiệp lạc hậu, công nghiệp
nhỏ bé, công nghệ lạc hậu. Bởi vậy, đòi hỏi chúng ta phảI đi nhanh vào hiện
đại ở những khâu quyết định, thực hiện tranh thủ tối đa tối đa công nghệ tiến
bộ, từng bớc đa công nghệ nớc ta đạt trình độ trung bình của khu
vực[6.37.38]. Đi tắt, đón đầu, thay đổi những công nghệ lạc hậu bằng những
công nghệ hiện đại nh: Công nghệ sinh hoc, công nghệ điện tử, viễn thông, tin
học, công nghệ vật liệu mới lựa chon các lĩnh vực có nhiều khả năng, thuận
lợi nhất để tiếp thu và chuyển giao công nghệ, phát triển nhanh các ngành
công nghiệp hiện đại, làm cho CNH phải gắn liền với HĐH đất nớc, tránh nguy
cơ ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế và trình độ phát triển KH&CN, đồng
thời không để nớc ta rơi vào bãi rác thải công nghệ của các nớc phát triển, góp
phần bảo vệ môi trờng. Để tận dụng những thuận lợi, thời cơ của cuộc cách
mạng KH&CN hiện đại vào thực hiện đẩy mạnh CNH,HĐH đòi hỏi chúng ta
phải phát triển tiềm lực KH&CN đất nớc, nâng cao năng lực nội sinh, trình độ
KH&CN, tạo điều kiện để tiếp thu và vận dụng những thành tựu KH&CN hiện
đại vào phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh.
Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại toàn cầu hóa
kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nớc tham
gia[8.13]. Xu hớng hiện thực đó là kết quả của phát triển lực lợng sản xuất, sự
tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại. Toàn cầu hóa mở ra
cơ hội giao lu hợp tác toàn diện giữa các nớc, đặc biệt là việc chuyển giao và
ứng dụng thành tựu KH&CN hiện đại vào sản xuất và đời sống. Đối với nớc ta,
toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là thời cơ để chúng ta tham gia hội nhập qua
đó mà tận dụng thu hút các nguồn lực bên ngoài nh nguồn vốn, KH&CN, kinh
nghiệm quản lý đồng thời tạo điều kiện để phát huy và khai thác các tiềm
năng nội sinh. Cơ hội để nớc ta đi tắt, đón đầu vào những ngành, những lĩnh
vực công nghệ hiện đại nhằm thực hiện thắng lợi CNH,HĐH đất nớc. Đồng
thời, nâng cao tiềm lực KH&CN, chất lợng và sức cạnh tranh của hàng hóa,
hàm lợng tri thức trong sản phẩm từ đó nâng cao vị thế đất nớc trên thị trờng
quốc tế. Thực hiện đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế đòi hỏi chúng ta phải phát triển KH&CN gắn KH&CN với phát triển
đất nớc, thực hiện CNH,HĐH bằng KH&CN, nâng cao trình độ phát triển và
chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, xu thế quốc tế hóa
nền kinh tế thế giới đặt ra yêu cầu đối với nớc ta là phải đẩy mạnh phát triển
KH&CN, tăng tiềm lực KH&CN và phát huy vai trò của KH&CNtrong phát
triển KT_XH. Trong thời gian qua hoạt động KH_CN đã đạt đợc những thành
tựu to lớn góp phần vào phát triển KT_XH, nâng cao tiềm lực KT_XH, thúc
đẩy việc ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống, đa nớc ta
ra khỏi khủng hoảng KT-XH, tạo ra tiền đề cần thiết cho đẩy mạnh CNH-HĐH
đất nớc nh: trình độ công nghệ thấp, chậm đổi mới; sản phẩm nghiên cứu khoa
học còn ít và tỷ lệ ứng dụng những thành tựu nghiên cứu vào sản xuất còn thấp;
nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới cha đợc làm sáng tỏ cả về lý
luận và thực tiễn; thiếu những dự báo khoa học; việc tổng kết thực tiễn còn
chậm và bị coi nhẹ. Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực còn thiếu quy
hoạch kế hoạch gây ảnh hởng lớn đến tài nguyên, môi trờng và điều kiện phát
triển đất nớc. Đội ngũ cán bộ KH&CN tuy có tăng về số lợng nhng chất lợng,
hiệu quả còn thấp, thiếu các chuyên gia đầu ngành, chuyên gia công nghệ hiện
đại; Cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm cho nghiên cứu và ứng dụng KH&CN còn
nghèo nàn, thông tin thiếu hụt, sự phối kết hợp giữa các ngành khoa học còn
hạn chế. Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu triển khai tuy đã đợc sắp
xếp một bớc nhng vẫn còn trùng lắp, cha đồng bộ thiếu sự kết hợp chặt chẽ
giữa nghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất kinh doanh. Việc ứng dụng
thành tựu KH&CN vào sản xuất đời sống còn hạn chế. Thực trạng nền
KH&CN trên chỉ rõ nền KH&CN nớc ta phát triển chậm, cha tơng xứng với
tiềm năng sẵn có, cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển trong thời kỳ CNH,HĐH
đất nớc[7.39]. Thực trạng phát triển KH&CN trên đặt ra yêu cầu phải tăng c-
ờng phát triển KH&CN, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại,
nâng cao trình độ KH&CN của đất nớc, phát huy vai trò nền tảng động lực
của KH&CN trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nứơc.
Phát triển KH&CN không chỉ xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đẩy
mạnh CNH,HĐH đất nớc mà còn xuất phát từ vai trò to lớn, tính cách mạng
của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh.
1.1.3. Vai trò của KH&CN đối với sự phát triển KT_XH
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chứng minh: Sự phát triển của các
hình thái KT-XH là quá trình lịch sử tự nhiên. Trong hình thái KT-XH, quy
luật mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là nội dung của
phơng thức sản xuất. Phơng thức sản xuất là cái mà nhờ đó chúng ta phân biệt
đợc sự khác nhau của các thời đại KT-XH. Các Mác đã viết: những thời đại
kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng
sản xuất bằng cách nào, với những t liệu lao động nào [4.269]. Trong nội
dung của lực lợng sản xuất, lao động của con ngời và t liệu lao động trớc hết là
công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất hàng đầu của
nhân loại là công nhân, là ngời lao động [3.42]. Lao động của con ngời là sự
kết hợp giữa lao động trí óc và lao động cơ bắp. Ngày nay, lao động của con
ngời ngày càng trở nên trí tuệ hơn, lao động trí tuệ, hay nói cách khác là hàm l-
ợng trí tuệ trong lao động. Chính sự phát triển của KH&CN đã góp phần nâng
cao chất lợng, trình độ nguồn lao động, là yếu tố quy định hàm lợng trí tuệ
ngày càng tăng trong sản phẩm. KH&CN đã làm cho con ngời trở thành nguồn
lực đặc biệt của nền sản xuất xã hội, động lực chủ yếu và trực tiếp tác động đến
sự phát triển của lực lợng sản xuất. Tính cách mạng của KH&CN là cơ sở của
sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất trong thời gian vừa qua.
Trớc hết, CácMác đã làm nổi bật vai trò của KH&CN trong sự phân tích về sự
khác biệt chủ yếu giữa công cụ lao động (dụng cụ) và máy móc. CácMác đã
chỉ ra rằng: Tất cả các máy móc đã phát triển gồm ba bộ phận khác nhau một
cách căn bản động cơ, cơ cấu truyền lực và cuối cùng là máy công cụ hay máy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét