Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Quản lý nhà nước với FDI


5
2. Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển.
2.1 Các tác động:
- Tăng trưởng kinh tế:

Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước chủ nhà là thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua tác động tích cực của FDI đến
các yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng: Bổ sung nguồn vốn trong
nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ
hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và phát triển khả năng công nghệ nộ
i địa; phát
triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị
trường thế giới; tạo liên kết giữa các ngành công nghiệp.
- Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế.

FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn
ngoại tê của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Hầu hết cac nước đang phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là:
Thu nhập thấp dẫn đên tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả l
ại là thu
nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là “điểm nút” khó khăn nhất mà các
nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.
Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và
tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này. Trở
ngại lớn nhất
để thực hiện điều đó đối với các nước đang phát triển đó là vốn
đầu tư kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi
mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… Từ đó tạo tiền đề tăng thu
nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để
tạo vốn cho nền
kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là tụt
hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú
hích” để góp phần đột pá cái vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn
quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận
đầu tư. H
ơn nữa luông vốn này có lợi thé hơn đối với vốn vay ở chỗ: Thời hạn
trả nợ vốn vay thường cố định và dôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư,
còn thời hạn của FDI thì thường linh hoạt hơn.
Theo mô hình lý thuyết “ hai lỗ hổng” của Cherery và Strout, có hai cản trở
chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đủ đáp

ng cho nhu cầu đầu tư được gọi là: “ lỗ hổng tiết kiệm”. (2) Thu nhập của hoạt
động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu
được gọi là: “ lỗ hổng thương mại”. Hầu hết ở các nước đang phát triển hai lỗ
hổng trên rất lớn, vì vậy FDI còn là một nguồn quan trọng không chỉ để bổ sung
nguồn v
ốn nói chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ nói riêng bởi vì FDI góp
phần nhằm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước

6
nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ
các hoạt dộng dịch vụ phục vụ cho FDI.
- Chuyển giao và phát triển công nghệ:

FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của
nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao
công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ
sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng
được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường đượ
c thực hiện chủ yếu bởi
các TNCs, dưới các hình thức: Chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của
một TNCs và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNCs. Những năm gần
đây, các hình thức này thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang
nước đang phát triển ở hình thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên
doanh có phần lớn vố
n nuớc ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến
bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật
kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketting.
Nhìn chung, các TNCs rât hạn chế chuyển giao những công nghệ mới có
tính cạch tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật
hoặc mất bản quyền công nghệ do việc bắt trước, cả
i biến hoặc nhái lại công
nghệ của các công ty nước chủ nhà. Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưa đáp
ứng được yêu cầu sử dụng công nghệ của các TNCs.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn góp
phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ
của nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động R&D của các
chi nhánh TNCs ở nước ngoài là c
ải biến công nghệ cho phù hợp với điều kiện
sử dụng của địa phương. Dù vây, các hoạt động cải tiến công nghệ của các
doanh nghiệp ĐTNN đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công
nghệ từ các cơ sỏ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián
tiếp tăng cường năng lực phát triển công nghệ
địa phương. Mặt khác, trong qúa
trình sử dụng công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ
nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách
thiết kế, chế tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện
sử dụng của địa phương và biến chúng thành công nghệ của minh. Nhờ có
những tác động tích cực trên, khả năng công nghệ
của nước chủ nhà được tăng
cường, vì thế nâng cao năng suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy được tăng
trưởng.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm


7
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuát, các vấn
đè xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc sông
thông qua đầu tư vào các lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo nghề
nghiệp và kỹ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao
được năng suất lao
động và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăng
trưởng.
Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu nhập cho người lao động mà còn
góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng
rât lớn dến tốc độ tăng trưởng.
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công việc làm thông qua việc cung
cấp việc làm trong các hãng có vố
n đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ
hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hang
háo dịch vụe từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họ thông qua các hợp
đông gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã đóng góp tích
cực tạo ra viẹc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao đọng như ngành may
mặc, điện tử, chế bi
ến.
Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo dạy nghề, FDI
còn góp phần quan trọng đối vơí phát triển giáo dục của nước chủ nhà trong các
lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý. Nhiều nhà
ĐTNN đã đóng góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ thông, cung cấp một số
thiết biết giảng dạy cho các cơ sở giáo dục của nướ
c chủ nhà, tổ chức các
chương trình phổ cập kiém thức có bản cho người lao động bản địa làm việc
trong dự án (trong đó có nhiều lao động được đi đào tạo ở nước ngoài).
FDI nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà theo nhiều hình thức như
các khoá học chính quy, không chính quy, và hoc thông qua làm.
Tóm lai, FDI đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm. Đât là mọt tác dộng
kép: tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là t
ăng thêm thu nhập cho người lao đông,
từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước. Tuy nhiên, sự đóng góp của FDI đỗi
với việc làm trong các nước nhận đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và
khả năng kỹ thuật của nước đó.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới

Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưỏng kinh té. Mối quan
hệ này được thể hiện ở các khía cạnh” xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế
so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất; nhập
khẩu bổ sugn các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng; xuất
nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông tin
dịch v
ụ, tăng cường kiến thức marketting cho các doanh nghiệp nội địa và lôi
kéo họ vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Tất cả các yếu tố này sẽ đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng.

8
Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận với thị trường thế
giới bởi vi, hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực
hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng
những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng,
kiểu dáng sản phẩm và giao hàng đúng hẹn.
- Liên kết các ngành công nghiệ
p
Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu qua tỷ trọng
giá trị hàng hoá (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực
tiếp từ các công ty nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thành các liên kết này
là cơ sở quan trọng để chuỷen giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và
thúc đẩy xuất nhập khẩu của nước chủ nhà.
Cụ th
ể: Qua các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ cho các công
ty nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp nội địa phát triển năng
lực sản xuất của mình (mở rộng sản xuất, bắt chước quy trình sản xuất và mẫu
mã hàng hoá…). Sau một thời gian nhât định các doanh nghiệp trong nước có
thể tự xuất nhập khẩu được.
- Các tác động quan trọng khác

Ngoài những tác động kể trên, FDI còn tác động đáng kể đến các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: chất lượng môi trường, cạnh tranh và độc
quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.
Mặc dù chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong các ngành khai
thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng ô
nhiễm môi trường tr
ầm trọng ở các nước đang phát triển tuy nhiên có nhiều
nghiên cứu cho thấy các TNCs rất chú trọng và tích cực bảo vệ môi trường hơn
các công ty nội địa. Bởi vì, quy trình sản xuất của họ thường được tiêu chuẩn
hoá cao nên dễ đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của nước chủ
nhà. Hơn nữa, các TNCs thường có tiềm lực tài chính lớn do đó có điều kiện
thuận l
ợi trong xử lý các chất thải và tham gia góp quỹ, hỗ trợ tài chính cho các
hoạt động bảo vệ môi trường.
FDI tác động mạnh đến cạnh tranh và độc quyền thông qua việc thêm vào
các đối thủ cạnh tranh hoặc sử dụng sức mạnh của mình đẻ khống chế thị phần ở
nước chủ nhà. Từ thúc đẩy cạnh tranh, FDI góp phần làm cho nền kinh tế hoạt
động có hiệu quả hơn, nhờ đ
ó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nhờ có FDI, cơ cấu nền kinh tế của nước chủ nhà chuyển dịch nhanh chóng
theo chiều hưóng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ và giảm tỷ
trọng các ngành nôngnghiệp, khai thác trong GDP.
FDI là một trong những hình thức quan trọng của các hoạt động kinh tế đối
ngoại và nó có liên quan chặt chẽ đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, vă
n

9
hoá- xã hội của các quốc gia, do đó sự phát triển của lĩnh vực này thúc đẩy sự
hoà nhập khu vuẹc và quốc tế của nước chủ nhà.
2.2 Các tác động đặc biệt
Bên cạnh tác động đến ác yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, FDI còn tác
động đến các khía cạnh quan trọng khác của đời sống văn hoá, xã hội và chính
trị của nứoc chủ nhà.
- Văn hoá - xã hộ
i
Văn hoá- xã hội là lĩnh vực rất nhạy cảm và mang đậm bản sắc của mỗi quốc
gia. Khi tiếp nhận FDI, có nghĩa là nước chủ nhà đã mở của giao lưu với nền
văn hoá các dân tộc trên thế giới. ĐTNN tác động mạnh vào mối quan hệ giữa
giữ gìn bản sắc của dân tộc và itếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở các mặt quan
trọng như: đổ
i mới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tập quán;
giao tiếp ứng xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hội.
Chất lượng của tư duy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Đổi mới
tư duy tức là đổi mới cách nghĩ, cách làm. FDI tác động rât tích cực vào quá
trình này thông qua trực tiếp đào tạo các nhà quản lý bản địa có kiến thức kinh
doanh hiện đại, những lao động làm việc trong các công ty nước ngoài, tiếp xúc
với công nghệ hiện đại và gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ, một lối
nghĩ mới có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Thái độ và đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lứon đén hành vi và chất
lượng lao động của mỗi cá nhân. Do hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay
gắt, những người làm việc trong cac dự án ĐTNN phải có thái độ nghjiêm túc
với công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng. Nhờ đó, góp phần
quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh có văn hoá.
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của các tầng
lớp dân cư theo kiểu hiện đại, tiêu dùng công nghiệp. Tác phong công nghiệp đã
buộc người lao động phải tiết kiệm thời gian cho gia đình và sinh hoạt cá nhân
Đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá giao tiếp, ứng xử ở nước
chủ nhà. Những người làm việc trong khu vực ĐTNN hoặc có quan hệ với các
công ty nước ngàoi thường có phong cách giao tiếp lịch sự và thái độ ứng xử
hoà nhã, tôn trọng đồng nghiệp và khách hàng. Phong cách này dần đần lan toả
ra các cá nhân trong toàn xã hội.
- Chủ quyền an ninh quốc gia

ĐTNN chủ yếu được thực hiện bởi TNCs có tiềm lực mạnh về tài chính,
khoa học công nghệ và mạng lưới phân phối trên phạm vi toàn cầu. Do đó, khi
tiếp nhận ĐTNN các nước đang phát triển rất lo ngại trước sức mạnh của các

10
công ty này có thẻ can thiệp vào chủ quyền lãnh thổ, đe doạ đến an ninh chính
trị và làm lũng đoạn nền kinh tế của mình.
Về mặt lý thuyết, ĐTNN có đe doạ đên an ninh kinh tế của nước chủ nhà
thông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng, những hàng hoá thiết yếu
hoặc đẩy mạnh đầu cơ, buôn lậu, rút chuyển vốn đi nơi khác… Vì mục tiêu theo
đuổi lợi nhu
ận cao, nên không loại trừ một số TNCs có thể can thiệp một cách
gián tiếp vào các vấn đề chính trị của nước chủ nhà. Do đó, đảm bảo tôn trọng
chủ quyền lãnh thổ là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong các chính sách, luật
pháp thu hút ĐTNN của nước chủ nhà. Hơn nữa, mặc dù có tiềm lực mạnh
nhưng các TNCs là những nhà kinh doanh và tài sản lịa bị phân tán ở nhiều
nước, trong khi đó nước chủ nhà lại có quân
đội và các sức mạnh cần thiết để
đảm bảo chủ quyền quốc gia.
Tuy có những đóng góp tích cực không thể phủ nhận đối với những nước
đang phát triển như đã kể trên nhưng ĐTNN vẫn còn những hạn chế: chuyển
giao công nghệ cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện của các nước đang
phát triển, giá cả đắt hơn thực t
ế; sản xuất và quảng cáo sản phẩm ảnh hưởng
tiêu cực đối với sức khỏe con người như ( rượu, bia, nước giải khát có ga, thuốc
lá, thực phẩm sử dụng nhiều hoá chât…); xúc phạm nhân phẩm người lao động,
khai thác cạn kiệt sức lao động của người làm thuê; làm tăng khoảng cách giầu
nghèo giữa các các nhân, giữa các vùng.
I
I.Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài
1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nói chung
1.1. Khái niệm.
Quản lí đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào
quá trình đầu tư và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp
kinh tế - xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả,
hiệ
u quả đầu tư, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể xác
định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vf quy luật đặc
thù của đầu tư.
1.2. Sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nước đối với hoạt động đầu
tư nói chung và các dự án nói riêng.
 Đối với các dự án dân lập
:
- Đầu ra của các dự án là sản phẩm, dịch vụ và chất thải các loại .Với đầu
ra là chất thải , rất có hại cho sức khoẻ của cộng đồng, nhà nước không thể bỏ
qua. Ngay cả những sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra từ dự án cũng không
đương nhiên là có lợi cho cộng đồng mà vẫn có thể có hại. Vì vậy, nhà nước

11
phải quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của đầu ra do
dự án gây nên.
- Đầu vào của dự án là các yếu tố mà sự hoạt động dự án sẽ sử dụng : tài
nguyên, lao động, máy móc, thiết bị. Việc sử dụng các đầu vào đó của dự án sẽ
ảnh hưởng đến cộng đồng về nhiều mặt. Vì vậy, nhà nước cần phải qu
ản lí các
dự án dân lập để cân đối các nguồn lực trong nền kinh tế, tránh rối loạn, thừa
thiếu trong nền kinh tế.
- Các đặc tính của mỗi công trình do dự án tạo ra, chỉ tiêu kiến trúc, kết
cấu, địa điểm phân bố… có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh… rất sâu sắc. Vì vậy, nhà nước củng phải quản lí các dự án dân lập trên các
mặt quy hoạch , xây dựng …
- Nhà n
ước quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các hiện tượng áp bức, bóc
lột, bất công xảy ra trong lòng dự án tư nhân.
 Đối với dự án quốc gia

Dự án nhà nước là những dự án sử dụng vốn nhà nước bỏ ra hoặc coi nhu
nhà nước bỏ ra. Chính vì thế, mọi dự án quốc gia đều có một ban quản lý dự án
kèm theo. Các ban này có thể là lâm thời tồn tại cùng dự án nếu là dự án lớn,
quan trọng, kéo dài nhiều năm. Ban này cũng có thể thường nhiệm tồn tại ngay
cả khi không có dự án nào hoặc cùng lúc quản lý nhiều dự án. Nhưng sự quản lý
của các ban qu
ản lý dự án chưa phải là tất cả sự quản lý của nhà nướcđối với dự
án quốc gia mà các ban quản lý này vẫn phải chịu sự quản lý của nhà nước bởi
hai lý do sau:
- Ban quản lý dự án chỉ chuyên quản với tư cách là chủ đầu tư. Họ là người
đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư, có sứ mạng làm cho vốn đó sớm biến
thành mục tiêu đầu tư. Cho nên các ảnh hưởng khác của dự án không được họ
quan tâm hoặc không có trách nhiệm và không đủ khả năng quan tâm. Do đó,
nếu không có sự quản lý của nhà nước với các ban quản lý này thì các dự án
quốc gia trong khi đeo đuổi các mục đích chuyên ngành có thể làm tổn hại đén
quốc gia ở các mặt họ không lường hết được hoặc không quan tâm.
- Bản thân các ban quản lý dự án cũng không thực hiệ
n trọn vẹn trong trách
nhiệm đại diện sở hữu vốn. Từ đó, sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả,
thậm chí chiếm công vi tư.
2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Vai trò của quản lý nhà nước với FDI
Môi trường quốc tế là như nhau với mỗi quốc gia. Như vậy, cơ hộ
i và khả
năng huy động vốn nước ngoài để phát triển kinh tế là nhu nhau. Nhưng thực tế
việc huy động vốn phụ thuộc có tính quyết định vào vai trò quản lý của nhà
nước đối với nền kinh tế nói chung, đặc biệt với hoạt động FDI. Vai trò đó trước
hết thể hiện ở khả năng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Sự hấp dẫn c
ủa

12
môi trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài chính là sự ổn định chính trị, ổn
định kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý an toàn, các thủ tục hành chính đơn giản,
cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển và có những định hướng đúng đắn
khuyến khích các nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn.
Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn FDI. Ch
ỉ có nhà nước với quyền lực và chức năng của mình
mới có khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so
với các nước trong khu vực và thế giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước
ngoài. Vai trò quản lý nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của
nhà nước trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho
sự vận động có hiệu quả FDI.
 Ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô cho sự vận động vốn FDI:
Các nhà đầu tư chỉ có thể sẵn sàng bỏ vốn vào kinh doanh tại một quốc gia
mà ở đó có sự ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô. Ổn định chính trị là
điều kiện trước tiên đảm bảo an toàn cho sự vận động của các hành vi kinh tế.
Vì vậy ổn định chính trị là yêu cầu đặt ra đầu tiên đối vớicác nhà đầu tư nước
ngoài khi lựa chọn m
ột nước là địa bàn đầu tư. FDI là hoạt động đầu tư tư nhân.
Nhưng hoạt động đầu tư dù trong nước hay nước ngoài đều được nhà nước hỗ
trợ dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đựoc sự
đảm bảo, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cua các tổ chức kinh tế và tổ chức quốc
tế. Nhà n
ước có vai trò quyết định trong việc lựa chọn , thực thi chính sách kinh
tế và chương trình đối ngoại theo hướng mở rộng các quan hệ song phương và
đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các
quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Quan hệ đối ngoại của nhà nước như chiếc
chìa khoá mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội
để đầu tư cũng
như để đảm bảo an toàn và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư của họ.
Một quốc gia kém phát triển ở giai đoạn đầu cảu quá trình phát triển kinh tế
thường phải đương đầu với những khó khăn và thử thách là cán cân thương mại
và cán cân thanh toán quốc tế luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề, mâu thuẫn
giữa khả năng thanh khoản thấp và nhu c
ầu đầu tư lớn , mất cân đối giữa thu chi
ngân sách. Ở đây thể hiện vai trò của nhà nước trong việc giải quyết những vấn
đề lạm phát, chính sách tài khoá, tiền tệ, tỉ giá hối đoái và xây dựng, củng cố hệ
thống tài chính vững mạnh, tạo lập cân đối cung cầu trong ba lĩnh vực trên để ổn
định kinh tế vĩ mô tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả
của nhà
đầu tư trong và ngoài nước, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng
xuất khẩu cao, ổn định trên cơ sở đó đảm bảo sự ổn định các cân đối vĩ mô.
 Tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo và khuyến khích FDI định hướng
theo chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong điều kiện kinh tế -
xã hội của Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế:


13
Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ quản lý khác. Nhà nước
đóng một vai trò điều hành kinh tế vĩ mô ( định hướng, điều tiết, hỗ trợ) nhằm
phát huy các mặt tích cực ngăn ngừa các mặt tiêu cực của hoạt động FDI. Các
nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nướ
c ngoài hoạt động ở Việt Nam mang tư
cách pháp nhân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Do vậy, các định
hướng kinh tế quan trọng đối với hoạt động FDI để phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế của đất nước cần được thể hiện thông
qua các quyết định của luật pháp, chính sách của nhà nước. Khi luật pháp, chính
sách được xây dựng đúng đắn, phù hợ
p, công tác chỉ đạo điều hành thực thi
nghiêm túc thì sẽ đạt được các định hướng và mục tiêu quản lý của nhà nước đối
với hoạt động FDI. Ngược lại, nếu những định hướng và mục tiêu quản lý không
được thực hiện đầy đủ thì trước hết là do sự chưa hoàn chỉnh trong chế định
pháp luật, chính sách và trong công tác điều hành thực hiện các chế định được
ban hành.
Hệ thố
ng pháp luật càng hoàn chỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực
và quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong hay ngoài nước,
công tác quản lý của nhà nước ngày càng đơn giản tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và càng có khả
năng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đả
m bảo an toàn
cho sự vận động của FDI:
Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế-
kỹ thuật của các dự án đầu tư. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển tạo điều
kiện cung cấp các dịch vụ thông tin để mở rộng quan hệ thươ
ng mại, giao lưu
hàng hoá, giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận
cho nhà đầu tư. Vì vậy, đây là yếu tố tác động mạnh mẽ vào sự quyết định của
nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm đầu tư.
Đối với quốc gia đang phát triển, trình độ cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội yêu
kém. Vì vậy vai trò của nhà n
ước là hết sức quan trọng trong việc huy động và
phân bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã
hội.
Hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính rủi ro và ở chừng mực nhất định có
tính mạo hiểm, càng rủi ro và mạo hiểm hơn, khi đầu tư ở nước ngoài. Vì vậy,
một đất nước có sự đảm b
ảo cao về trật tự an toàn xã hội sẽ làm cho các nhà đầu
tư yên tâm về sự an toàn tính mạng và tài sản của mình khi bỏ vốn kinh doanh ở
một quốc gia khác.

14
Nhà nước với vai trò quan trọng trong việc xây dựng một triết lý kinh doanh
hiện đại, tiến tiến mang bản sắc văn hoá Việt Nam, thấm nhuần tư tưởng của
đảng:” Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
2.2. Chức năng quản lý nhà nước với FDI
 Dự báo

Chức năng dự báo được thể hiện trên cơ sở các thông tin chính xác và các
kết luận khoa học. Dự báo là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và
thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các dự án FDI và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể nói nếu thiếu chức năng dự báo, công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động FDI sẽ không mang đầy đủ tính chất củ
a một hoạt
động quản lý khoa học cũng nhu không thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu
quản lý. Hoạt động dự báo bao gồm dự báo tình hình thị trường hàng hoá, dịch
vụ, lao động, thị trường vốn trong và ngoài nước, xu hướng phát triển, tình hình
cạnh tranh trong khu vực và thế giới, chính sách thương mại của các chính phủ
… Để tiến hành tốt chức năng dự báo cần sử dụng các công cụ dự báo khác nhau
và nên tiến hành dự báo từ những nguồn thông tin khác nhau.
 Định hướng

Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với việc loại trừ vai trò của kế hoạch
hoá mà trái lại rất cần sự định hướng và điều tiết của nhà nước thông qua các
công cụ, chiến lược, mục tiêu, chương trình, kế hoạch, qui hoạch. Chức năng
định hướng của nhà nước trước hết thể hiện ở việc xác định đúng đắn chiến lược
phát tri
ển kinh tế của đất nước, từ đó xác định phương hướng, nhiệm vụ kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở chiến lược phát
triển dài hạn và kế hoạch trong từng thời kỳ xây dựng các phương án, mục tiêu,
chương trình hành động quốc gia, qui hoạch và kế hoạch phát triển tổng thể nền
kinh tế. Từ đó tiến hành qui hoạ
ch thu hút các nguồn vốn cho việc thực hiện các
phương án, mục tiêu, chương trình quốc gia. Công tác định hướng của nhà nước
với FDI phải được cụ thể hoá bằng việc xây dựng danh mục các dự án kêu gọi
vốn đầu tư nước ngoài, xác định các lĩnh vực ưu tiên, địa điểm ưu tiên FDI. Để
đạt được mục tiêu định hướng thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu
tiên thực hi
ện mục tiêu phát triển kinh tế, nhà nước cần vận dụng các công cụ
kinh tế để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài.
 Bảo hộ và hỗ trợ

Nhà nước là chủ thể quản lý cao nhất là người đại diện cho quyền lợi của cả
cộng đồng quốc gia. Vì vậy chỉ có nhà nước mới có đủ tư cách, sức mạnh, tiềm
lực để bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và của các nhân người nước ngoài. Chức năng bảo hộ của nhà nước
được thực hi
ện trước hết ở việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản và lợi nhuận hợp

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét