Đề án môn học
nơi đầu tư sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng
sau này của các kết quả đầu tư.
Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng
nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện pháp lý của
không gian.
Từ những đặc điểm trên, ta thấy Đầu tư phát triển không những tác động
đến nền kinh tế mà còn tác động đến toàn bộ xã hội. Vì vậy mà Đầu tư phát
triển có những vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội
nói chung.
1.1.2. Vai trò của Đầu tư phát triển.
Các nhà kinh tế đều cho rằng Đầu tư phát triển là chìa khoá của sự tăng
trưởng. Vai trò này được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất: Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.
* Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đên tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Về mặt lý luận, hầu hết các tư tưởng, mô hình và lý thuyết về tăng
trưởng kinh tế đều trực tiếp hoặc gián thiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ
vốn cho đầu tư là một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất,
cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế. Từ các nhà kinh tế học cổ điển như Adam
Smith trong cuốn “của cải của các dân tộc” đó cho rằng vốn đầu tư là yếu tố
quyết định chủ yếu của số lao động hữư dụng và hiệu quả. Việc gia tăng quy
mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng ttrong việc gia tăng sản lượng quốc gia
và sản lượng bình quân mỗi lao động. Theo mô hình của Harrod-Domar, mức
tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư
thuần.
g =∆Y/Y =∆Y/y*∆K/∆K=∆Y/∆K*∆K/Y=1/ICOR*I/Y
=> ∆Y=1/ICOR*I
Trong đó: ∆Y: mức gia tăng sản lượng
SV: Trần Quốc Hùng 5 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
∆K: Mức gai tăng vốn đầu tư
I: Mức đầu tư thuần
K: Tổng quy mụ vốn của nền kinh tế
Y: Tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR: Là hệ số gia tăng vốn-sản lượng.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ trong tiến
trình đổi mới của nền kinh tế nước ta thời gian qua. Với chính sách đổi mới,
các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng
hoá và gia tăng về quy mô, tốc độ tăng truởng của nền kinh tế đạt được cũng
rất thoả đáng. Cuộc sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày
càng được cải thiện.
* Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu:
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên
(đường S dịch chuyển sang đường S’), kéo theo sản lượng tiềm năng từ Q1
đến Q2 và do đó giá cả sản phẩm từ P1 đến P2. Sản lượng tăng, giá cả giảm,
cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích
sản xuất hơn nữa sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ,
phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời
sống của mọi thành viên trong xã hội.
Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường
chiếm khoảng 24% - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế
giới. Đối với tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa
kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch sang
D’) kéo theo lượng cân bằng tăng theo từ Qo đến Q1 và giá cả của các đầu
vào của đầu tư tăng từ Po đến P1. Điểm cân bằng dịch chuyển từ Eo đến E1.
SV: Trần Quốc Hùng 6 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
Sự tác động của đầu tư đến cung, cầu được thể hiện qua mô hình sau:
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,
dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là
yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
* Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất
nước. Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của đất nước ta
hiện nay. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ
của Việt nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực.
Đầu tư và đặc biệt là ĐTPT trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng và
năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và các đơn vị cơ sở. Chính vì vậy,
đâu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng
lực công nghệ của quốc gia theo cơ cấu kĩ thuật của đầu tư, trong giai đoạn
vừa qua, tỷ trọng giá trị máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư của VN chiếm
khoảng 28% (xây dựng chiếm khoảng 57%).
Cơ cấu này chưa phản ánh đúng yêu cầu CNH-HĐH, tuy nhiên nó cũng
là con số không nhỏ tạo ra năng lực công nghê cho toàn bộ nền kinh tế. Đối
với đầu tư nước ngoài, hoạt động của doanh nghiệp FDI thường gắn với các
SV: Trần Quốc Hùng 7 Kinh tế Đầu tư 47C
D’
D
E
2
E
1
S
S’
E
0
Q
0
Q
1
Q2
P
0
P
2
P
1
Q
P
Đề án môn học
chương trình chuyển giao công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có thể là
điểm đến của một số công nghệ và phương thức dản xuất mới. Đối với chi
đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triên công nghệ mới
mặc dù vẫn cũn nhỏ về quy mô, thấp về tỷ trọng (giai đoạn 2001-2005 là 7,6
nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn đầu tư toàn xã hội) nhưng ở đây cũng là một
trong những biểu hiện của đầu tư và ở mức độ nhận định nó cũng có tạo ra và
tăng cường năng lực khoa học công nghệ nước ta (đạt được những thành tựu
nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp: giống mới, công nghệ ren…)
* Đầu tư và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu có
thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo
ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Đối với các ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ hải sản do những hạn chế về
đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5% - 6% là rất
khó khăn. Như vậy chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng nhanh của toàn bộ nền kinh
tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mặt cân đối về
phát triển giữa các vùng, lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi
tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
thế, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh, làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. Kết quả nghiên cứu của các
nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ phát triển ở mức trung bình thì tỷ lệ
đầu tư phải đạt từ 15% - 20% so với GDP, tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
ICOR = => ICOR =
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
tư.
SV: Trần Quốc Hùng 8 Kinh tế Đầu tư 47C
Vồn đầu tư
Mức tăng GDP
Vồn đầu tư
ICOR
Đề án môn học
Thứ hai: Xét trên giác độ các đơn vị kinh tế của đất nước, Đầu tư phát
triển có những vai trò sau:
* Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ: đầu tư quyết định sự ra
đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà
xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến
hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn với sự
hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra.
Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh phục vụ đang tồn tại, sau một thời
gian hoạt động, các cơ sở vật - chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư
hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa
chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất - kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn
hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa
học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, mua sắm các thiết
bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu
tư.
* Đối với các cơ sở vô vị lợi, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành
sửa chữa lớn định kỳ, các cở sở vật chất - kỹ thuật còn phải thực hiện các chi
phí thường xuyên. Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt
động đầu tư.
Như vậy: Đầu tư có một vai trò vô cùng to lớn đối với toàn bộ sự phát
triển của một quốc gia. Muốn hoạt động đầu tư ta cần có vốn đầu tư. Vậy vốn
là gì? Vốn huy động từ đâu?
SV: Trần Quốc Hùng 9 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
1.2. Vốn và nguồn vốn.
1.2.1 Khái niệm về vốn.
Xét một phương diện tổng quát nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để
chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư kinh tế đáp ứng nhu cầu
chung của nhà nước và của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn đầu tư
trong nước và nguồn đầu tư nước ngoài.
Nếu chỉ xét theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng thì vốn đầu tư là
tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh phục vụ, là tiền tiết
kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng
trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm
lực mới cho nền sản xuất xã hội.
1.2.2 Các nguồn vốn cơ bản:
1.2.2.1. Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước của mỗi quốc gia được hình thành chủ yếu
từ: tiết kiệm của chính phủ, tiết kiệm dân cư, tiết kiệm của các doanh nghiệp
và vốn huy động thông qua các tài sản quốc gia.
* Nguồn vốn Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư Nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà
nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu
tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là nguồn chi của ngân sách Nhà nước
cho đầu tư. Đó là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia. Ngân sách Nhà nước được hình thành từ việc thu
thuế, phí, lệ phí, từ vay viện trợ ưu đãi của nước ngoài, vay trên thị trường
vốn quốc tế và vay trong dân dựa trên việc phát hành trái phiếu chính phủ.
Hiện nay có sự đa dạng vốn đầu tư Nhà nước, không có sự tách biệt giữa: Đầu
tư Nhà nước cho sự phát triển chung của xã hội và đầu tư Nhà nước cho sản
SV: Trần Quốc Hùng 10 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà phải xác định cụ thể nguồn vốn ngân sách
không thể đầu tư tràn lan được, mà phải hạn chế trong một số lĩnh vực chủ
yếu nhất định. Để làm tăng ngân sách Nhà nước, tức là tăng tiết kiệm chính
phủ thì phải tăng thu và tăng tiết kiệm trong chi ngân sách. Trong thu ngân
sách thì thu từ thuế chiếm tỷ trọng lớn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ
chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với
các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Hình thức tín dụng tức là có vay
có trả, và phải trả với một lãi suất nhất định, thường là lãi suất ưu đãi khi vay
vốn hay sau khi đầu tư (đầu tư có hiệu quả mới được ưu đãi). Nguồn vốn này
có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ. Hiện nay ở nước ta
chính phủ sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nhằm tập
trung hỗ trợ đầu tư cho những ngành, lĩnh vực hoặc sản phẩm quan trọng,
then chốt của nền kinh tế một cách có trọng tâm, trọng điểm; giảm sự bao cấp
và tách bạch tín dụng ngân sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng cơ bản.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước là Nguồn vốn này được
xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh
nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn Nhà nước khá lớn. Nguồn
vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước được hình thành do ngân sách Nhà
nước cấp, từ lợi nhuận của doanh nghiệp (đầu tư mới), từ quỹ khấu hao của
doanh nghiệp đó (đầu tư thay thế), từ vốn vay (vay ngân hàng thương mại,
quỹ tín dụng đầu tư của cán bộ công nhân viên, từ cổ phần )…
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư,
phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã và lượng kiều
hối.
SV: Trần Quốc Hùng 11 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
Tiết kiệm của dân cư được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của
dân cư, sau khi đó đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước (nếu có) và đảm bảo tiêu
dùng cho nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình họ. Phạm vi thu nhập của
dân cư bao gồm: thu nhập từ kết quả lao động, từ sản xuất và kinh doanh dịch
vụ của bản thân dân cư và gia đình họ, kể cả xí nghiệp gia đình cú quy mô
nhỏ (không phải là công ty); thu nhập do người thân từ nước ngoài gửi về; thu
nhập do thừa kế; thu nhập được hình thành từ những cơ hội may mắn bất ngờ.
Tiết kiệm khu vực dân cư là một bộ phận quan trọng của tiết kiệm trong nước,
đóng góp vai trũ chủ yếu trong việc hỡnh thành vốn đầu tư của các quốc gia,
đây là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.
Tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh là nguồn vốn bao gồm vốn chủ
sở hữu và tiết kiệm (các khoản thu nhập của doanh nghiệp sau khi trả thuế và
trả cổ tức); từ vốn đi vay hoặc tăng vốn cổ đông bằng cách phát hành cổ phiếu
mới. Phần tích luỹ của các doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào tổng quy
mô vốn của toàn xã hội. Hoạt động của các doanh nghiệp dân doanh đạt hiệu
quả, tạo doanh thu cao hơn so với doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động kinh
doanh đa ngành với nhiều lĩnh vực khác nhau, giải quyết công ăn vịêc làm
cho hàng triệu người lao động, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế -
xã hội đất nước.
1.2.2.2. Nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ cá nhân, các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động
được vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Nó bao gồm: nguồn vốn hỗ trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư gián tiếp, nguồn vốn từ thị trường
vốn quốc tế.
SV: Trần Quốc Hùng 12 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
1.2.2.2.1. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
* Nguồn vốn ODF (Official Development Finance): là nguồn tài trợ
phát triển chính thức do các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ cung cấp. Nguồn
này bao gồm: viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức tài trợ phát
triển khác trong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu.
* Nguồn vốn ODA (Official Development Assistance) là nguồn tài chính
do các cơ quan chính thức (chính quyền Nhà nước hay địa phương) của một
nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này.
Nội dung viện trợ:
- Viện trợ không hoàn lại: yếu tố không hoàn lại của từng khoản vay
được xác đinh dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn,
số lần trả nợ trong năm và tỷ suất chiết khấu. Đối với loại viện trợ này chiếm
25% tổng vốn ODA, thường là hỗ trợ kĩ thuật, chủ yếu là chuyển giao công
nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động của chuyên gia quốc
tế. Đôi khi viện trợ này lại là viện trợ nhân đạo như lương thực, thuốc men
hoặc các loại hàng hoá khác nên chúng rất khó huy động vào mục đích đầu
tư phát triển. Nhưng bên cạnh đó các khoản viện trợ này thường kèm theo
một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá
- Viện trợ có hoàn lại: thực chất là cho vay ưu đãi với điều kiện “mềm”
có thể sử dụng cho mục tiêu đầu tư phát triển. Tính chất ưu đãi thể hiện ở khía
cạnh đó là: lãi suất thấp, thời hạn cho vay dài. Nhật Bản cho Việt Nam vay
trong thời gian là 30 năm, Ngân hàng thế giới là 40 năm; thời gian ân hạn từ
khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dài, khoảng từ 5-10 năm trở lên,
Nhật Bản ân hạn là 10 năm.
- Viện trợ hỗn hợp: bao gồm phần cấp không và phần còn lại thực hiện
theo hình thức vay tín dụng ( có thể ưu đãi hoặc bình thường ).
SV: Trần Quốc Hùng 13 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
* Đặc điểm của nguồn vốn ODA.
- ODA là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài mà các nhà tài trợ
không trực tiếp điều hành dự án nhưng có thể gián tiếp tham gia dưới hình
thức nhà thầu hoặc chuyên gia. Danh mục các dự án ODA phải có sự thoả
thuận với nhà tài trợ.
- ODA gồm: viện trợ không hoàn lại và viện trợ có ưu đãi nhưng nếu
quản lý và sử dụng kém hiệu quả thì nó sẽ là gánh nặng nợ trong tương lai.
- Các nước nhận viện trợ ODA phải có đủ 1 số điều kiện nhất định thì
mới được nhận viện trợ. Điều này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.
Ví dụ: để nhận tài trợ ưu đãi của IMF nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp
vào IMF và số tiền vay sẽ phụ thuộc vốn cổ phần.
- Chủ yếu dành hỗ trợ cho dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: giao
thông vận tải, y tế giáo dục…
- Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ là các tổ chức viện trợ đa phương
và các tổ chức viện trợ song phương Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhất
hiện này là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Úc, Thuỵ Điển
1.2.2.2.2. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một
thời gian sẽ phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay, các nước cho vay
nhận lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay.
Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, các nước tiếp nhận vốn
không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào về chính trị xã hội và có toàn quyền
sử dụng vốn vay này. Tuy nhiên, điều kiện ưu đãi của nguồn vốn này không
dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA, thủ tục vay lại tương đối khắt khe và
nghiêm ngặt, có những quy định riêng về thời gian trả nợ, cộng với lãi suất
cao nên gây cản trở không nhỏ đối với các nước nghèo.
SV: Trần Quốc Hùng 14 Kinh tế Đầu tư 47C
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét