Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG.doc

Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA
VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
3.1. Một số chỉ tiêu trong hoạt động tín dụng và định hướng, giải pháp
phát triển các tổ chức tín dụng đến năm 2010
3.1.1. Một số chỉ tiêu trong hoạt động tín dụng từ nay đến năm 2010
Trong văn bản số 30/BCS-NHNN ngày 12/10/2006 của Ban cán sự NHNN đã
xây dựng chương trình hành động nhằm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X và đưa ra một số chỉ tiêu trong hoạt động tín dụng của ngành ngân
hàng đến năm 2010 như sau:
- Tăng trưởng bình quân tín dụng : 18-20% / năm
- Tỷ lệ an toàn vốn đến năm 2010 : không dưới 8%
- Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ đến 2010 : dưới 5%
3.1.2. Định hướng phát triển ngành ngân hàng giai đoạn 2006-2010
3.1.2.1. Đối với NHNN
 Nâng cao vị thế của NHNN
- NHNN hoạt động thực sự với tư cách và mang đầy đủ tính chất là ngân hàng
trung ương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chức năng
chủ yếu của NHNN: là ngân hàng phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, là
người cho vay cuối cùng, là cơ quan điều tiết thị trường tiền tệ và trung tâm thanh
toán, đồng thời kết hợp với chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân
hàng, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
- NHNN độc lập, tự chủ trong việc xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ, lãi
suất và tỷ giá hối đoái, tổ chức thực hiện chiến lược, xây dựng và điều hành chính
sách tiền tệ trên cơ sở phân định rõ quyền hạn, nhiệm vụ. Đồng thời có sự phối hợp
chặt chẽ giữa NHNN với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Bộ tài chính trong quá
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 49
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
trình xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng.
- NHNN có đủ nguồn lực và độc lập tương đối về nghiệp vụ, tổ chức và tài
chính, hoạt động với cơ chế khác với các cơ quan hành chính, sự nghiệp, dưới sự
quản lý, giám sát của Chính Phủ và Quốc hội.
- NHNN có trách nhiệm và quyền hạn chủ chốt trong việc quản lý, giám sát
hoạt động của các TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng, đồng thời phối
hợp chặt chẽ với Bộ tài chính trong việc quản lý, giám sát bảo đảm an toàn hệ thống
tài chính.
 Đổi mới và phát triển hệ thống giám sát ngân hàng
Trên cơ sở bộ máy thanh tra NHNN hiện có, xây dựng hệ thống giám sát ngân
hàng hiện đại và hữu hiệu cả về cơ chế, mô hình tổ chức, con người và phương châm
nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển hệ thống Ngân hàng Việt Nam và thực
hiện theo nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng.
3.1.2.2. Đối với tổ chức tín dụng
Cải cách triệt để và phát triển hệ thống các TCTD theo hướng đa năng, hiện đại,
đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, có quy mô lớn và hoạt động theo nguyên tắc
thị trường với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, áp dụng các thông lệ và chuẩn mực
quốc tế vào hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cơ cấu lại hệ thống NHTM, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương
mại, bảo đảm quyền kinh doanh của các tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam
kết song phương và đa phương đã ký kết với các nước và các tổ chức quốc tế, gắn cải
cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp. Tiếp tục cơ cấu lại một cách toàn diện hệ
thống TCTD theo các đề án đã được phê duyệt, cụ thể là:
−Tăng cường năng lực thể chế thông qua cơ cấu lại tổ chức và hoạt động, phân
biệt rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng quản trị và ban điều
hành, mở rộng quy mô hoạt động đi đôi với tăng cường năng lực tự kiểm tra, quản lý
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 50
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
rủi ro, bảo đảm an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, phát triển các hệ thống quản lý
của NHTM phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
−Tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo các NHTM có đủ nguồn vốn để tiếp
tục tăng vốn điều lệ, tài sản có đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng sinh lời,
xử lý dứt điểm nợ tồn đọng và làm sạch bảng cân đối của các NHTM.
− Từng bước cổ phần hóa các NHTM nhà nước theo nguyên tắc thận trọng, bảo
đảm ổn định kinh tế - xã hội và an toàn hệ thống ngân hàng. Cho phép các nhà đầu tư
nước ngoài, nhất là các ngân hàng có tiềm lực về tài chính, công nghệ, quản lý và uy
tín được mua cổ phiếu và tham gia quản trị, điều hành NHTM tại Việt Nam. Ngân
hàng quốc doanh đóng vai trò chủ đạo và đi đầu trong hệ thống ngân hàng về quy mô
hoạt động, năng lực tài chính, công nghệ, quản lý và hiệu quả kinh doanh, đồng thời
cùng với ngân hàng cổ phần trong nước đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Dự kiến trước năm 2008 sẽ hoàn thành cổ phần hóa Ngân hàng
Ngoại Thương, Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long và đến năm
2010 sẽ hoàn thành cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh khác.
−Phát triển quỹ tín dụng nhân dân thành TCTD hợp tác độc lập, hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh tiền tệ.
−Tuân thủ các quy định của các Hiệp định song phương với các nước và quy
định của WTO về mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng.
− Đổi mới cơ chế quản lý, cho phép các tổ chức tín dụng được thực sự tự chủ và
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và được hoạt động trong khuôn
khổ pháp lý minh bạch, công khai, bình đẳng. Nhà nước chỉ đóng vai trò tạo lập môi
trường thuận lợi cho hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Nâng cao hiệu lực quản lý và tăng
cường năng lực quản trị rủi ro, thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả các cấu
phần quản trị rủi ro, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro trong đó có RRTD.
3.1.2.3. Định hướng khác
Phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng đa dạng, đa tiện ích được nhận định theo
nhu cầu của nền kinh tế trên cơ sở nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ ngân
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 51
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
hàng truyền thống, đồng thời tiếp cận nhanh hoạt động ngân hàng hiện đại và dịch vụ
tài chính, ngân hàng mới có hàm lượng công nghệ cao. Từng bước tự do hóa gia nhập
thị trường và khuyến khích các Tổ chức tín dụng cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ,
công nghệ, uy tín thương hiệu thay vì dựa chủ yếu vào giá cả dịch vụ ngân hàng và
mở rộng mạng lưới. Đến năm 2010 hệ thống ngân hàng Việt Nam phấn đấu phát triển
được hệ thống dịch vụ ngân hàng ngang tầm với các nước trong khu vực Asean về
chủng loại, chất lượng và có khả năng cạnh tranh quốc tế ở một số dịch vụ.
− Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng đến năm 2010. Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các
thể chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn, kinh doanh tiền tệ - ngân hàng. Xây dựng
môi trường pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch góp phần
tạo môi trường lành mạnh và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và bảo đảm an
toàn hệ thống tiền tệ - ngân hàng. Loại bỏ hình thức bảo hộ, bao cấp, phân biệt đối xử
giữa các tổ chức tín dụng. Tăng cường hiệu lực những chế tài pháp lý, kinh tế, hành
chính bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của người đi vay và bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các tổ chức tín dụng. Hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc hình sự hóa các
quan hệ kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng.
− Phát triển hạ tầng công nghệ hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực
dựa trên cơ sở ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin, điện tử tiên tiến và các
chuẩn mực, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; Tăng cường hệ thống
an toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu và an ninh mạng.
− Phát triển thị trường tiền tệ an toàn, đồng bộ và mang tính cạnh tranh cao
nhằm tạo cơ sở quan trọng cho hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, huy động
và phân bố có hiệu quả nguồn lực tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD.
− Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng theo lộ trình và
bước đi phù hợp với khả năng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, trước hết là nâng
cao năng lực cạnh tranh của các TCTD và khả năng quản lý, kiểm soát hệ thống của
NHNN. Tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD trong nước mở rộng hoạt động ra thị
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 52
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
trường nước ngoài thông qua các dịch vụ cung cấp trong khuôn khổ WTO, đặc biệt là
hiện diện thương mại, cung cấp qua biên giới; Phát triển quan hệ hợp tác đa phương
và song phương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng nhằm tận dụng nguồn vốn, công
nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến của nước ngoài. Phối hợp với các cơ quan thanh
tra, giám sát tài chính nhằm phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý rủi ro trên phạm
vi khu vực và toàn cầu.
3.1.3. Quan điểm, định hướng hoạt động phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín
dụng của ngân hàng thương mại
3.1.3.1. Quan điểm
Hoạt động phòng ngừa và hạn chế RRTD là nhân tố rất quan trọng đảm bảo sự
cân bằng giữa tăng trưởng về mặt lượng với mặt chất của hoạt động tín dụng, góp
phần duy trì và nâng cao khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng cho nền kinh
tế. Ngoài ra hoạt động này còn góp phần quan trọng làm cho thị trường tiền tệ, tín
dụng tránh được tình trạng phát triển lúc nóng, lúc lạnh, qua đó nâng cao chất lượng
và sự bền vững cho sự phát triển của thị trường tiền tệ, tín dụng tại Việt Nam.
− Có rất nhiều nguyên nhân và yếu tố dẫn đến RRTD. Khi đặt vấn đề phòng
ngừa và hạn chế RRTD thì cần nhận thức và xử lý trên cơ sở đặt chúng trong mối
quan hệ với các yếu tố môi trường kinh tế, pháp lý của nền kinh tế nói chung và hoạt
động của hệ thống ngân hàng nói riêng. Do tính chất là một trung gian tài chính, nên
các ngân hàng luôn đối mặt trong tình trạng thông tin mất cân xứng với những hoạt
động sản xuất kinh doanh và ngân hàng tài trợ, do vậy ngân hàng chịu rất nhiều rủi ro
hơn các doanh nghiệp bởi các nguyên nhân gắn trực tiếp với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp gây ra.
− Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, do vậy ngân hàng phải
tìm cách sống chung với rủi ro. Hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro được xem là
công cụ để ngân hàng hoạt động tín dụng có hiệu quả và bền vững hơn. Ngân hàng
không nên thấy hoạt động tín dụng đầy rủi ro mà co cụm lại, sợ trách nhiệm và làm
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 53
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
đọng vốn. Tuy nhiên cũng không quá mạo hiểm trong hoạt động tín dụng khi quá tự
tin vào khả năng quản lý rủi ro của mình.
− Trong xu thế hội nhập quốc tế nhanh chóng và sâu sắc về hoạt động tiền tệ, tín
dụng, hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần được thực hiện tiếp cận với tiêu
chuẩn và thông lệ quốc tế thông qua tiếp thu một cách có chọn lọc các công nghệ và
kinh nghiệm quốc tế phù hợp trong hoạt động này.
3.1.3.2. Định hướng
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến 2010 được thông qua trong đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) đã xác định phương hướng căn bản cho hoạt
động tiền tệ, tín dụng ngân hàng với mục tiêu “bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm
soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển”. Để đạt
được mục tiêu trên hoạt động hạn chế rủi ro và tăng cường an toàn và chất lượng tín
dụng đã được đề cập như một trọng tâm với nội dung chính là “Hình thành đồng bộ
khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an
toàn trong kinh doanh tiền tệ ngân hàng; giải quyết nợ tồn đọng đi đôi với tăng cường
những chế định pháp lý, kinh tế và hành chính về nghĩa vụ trả nợ của người đi vay và
bảo vệ quyền thu nợ hợp pháp của người cho vay; Tăng cường năng lực tự kiểm tra
của tổ chức tín dụng và công tác thanh tra, giám sát của cơn quan chức năng, không
để xảy ra đổ vỡ tín dụng”
Tầm quan trọng của hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro đã được xem là
một trong những biện pháp lâu dài và cơ bản để đạt được mục tiêu trên. Đây là yêu
cầu rất bức bách và cũng rất nặng nề về tăng trưởng an toàn tín dụng do thực tế đặt ra
với hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong bối cảnh hoạt động tiền tệ, ngân
hàng ngày càng đa dạng với sự tăng cường mạnh mẽ tính chất hợp tác, cạnh tranh
quốc tế khi tham gia hội nhập sâu rộng hơn với cộng đồng tài chính, tiền tệ khu vực
và thế giới.
Thực trạng RRTD khá phổ biến trong thời gian qua cho thấy ở nước ta còn có
sự yếu kém trong năng lực kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng của các tổ
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 54
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
chức tín dụng và các cơ quan có chức năng liên quan. Đây là một trong những
nguyên nhân quan trọng làm suy yếu hiệu lực của hoạt động phòng ngừa và hạn chế
rủi ro. Do đó phải tăng cường năng lực kiểm tra, giám sát để sớm tránh được hoặc
phát hiện và xử lý kịp thời RRTD.
Hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro phải gắn liền với mục tiêu tăng trưởng
của nền kinh tế và diễn biến tài chính tiền tệ trong từng giai đoạn cụ thể để đảm bảo
tính linh hoạt nhưng vẫn giữ vững mục tiêu hàng đầu là bảo đảm ổn định hệ thống
tiền tệ, ngân hàng, hỗ trợ tích cực cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Trong những
năm gần đây mục tiêu tăng trưởng GDP luôn đạt 7-8%, tăng trưởng tín dụng ở mức
20-30%. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng luôn cao trong các năm thì hoạt động
phòng ngừa và hạn chế rủi ro phải có sự linh hoạt trong cân bằng để vừa đảm bảo
được tăng trưởng cần thiết cho hoạt động tín dụng và hệ thống ngân hàng, vừa bảo
đảm sự bền vững, an toàn cho hệ thống tiền tệ, tín dụng. Hai yêu cầu này bổ sung, hỗ
trợ cho nhau tạo nên điều kiện cần và đủ cho sự phát triển cả về lượng và chất của
hoạt động tín dụng đối với các ngân hàng.
3.2. Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân
hàng
3.2.1. Kiến nghị đối với các cấp quản lý vĩ mô và NHNN
3.2.1.1. Về cơ chế, chính sách và môi trường pháp lý
Hoàn thiện hệ thống pháp luật là một đòi hỏi cấp bách. Nhà nước phải không
ngừng tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh để khuyến khích sản xuất kinh doanh, tạo
hành lang pháp lý vững chắc, rộng mở để các thành phần kinh tế yên tâm bỏ vốn ra
đầu tư. Nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện đổi mới môi trường kinh tế, coi đó là
giải pháp tổng thể và cơ bản nhất trong quá trình đổi mới mọi lĩnh vực kinh doanh
nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nói riêng, cụ thể:
- Rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ thống văn bản pháp quy đảm bảo
tính thống nhất, phù hợp với hành lang pháp lý chung, phù hợp với điều kiện của nền
kinh tế thị trường để ngân hàng và các ngành kinh tế có căn cứ thực hiện.
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 55
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
- Thiết lập và duy trì chính sách phát triển kinh tế theo hướng ổn định, tránh
việc thay đổi bất ngờ, thường xuyên, liên tục làm cho các ngân hàng, doanh nghiệp
trở tay không kịp, gây thua lỗ thậm chí dẫn đến phá sản. Nhà nước cần duy trì môi
trường kinh tế thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo nên một môi trường kinh tế mà vốn có thể đầu tư một cách an toàn, duy trì
mức lạm phát vừa phải, hoạt động tài chính vững vàng.
- Trong việc ban hành và thực hiện các cơ chế, chính sách, luật pháp cần nắm
bắt nhanh và kịp thời mọi sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhất là việc từng bước
hoàn chỉnh nền kinh tế thị trường. Trước khi ban hành các văn bản điều chỉnh cơ chế,
chính sách, luật pháp phải thu thập ý kiến đầy đủ, khách quan từ các cơ quan, ban
ngành, doanh nghiệp để bảo đảm việc thực thi được chính xác, hiệu quả, công bằng,
phù hợp với điều kiện thực tế.
- NHNN cần phối hợp với các bộ ngành có hướng dẫn cụ thể và tháo gỡ những
vướng mắc cụ thể, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của TCTD, của cơ quan công an, của
chính quyền cơ sở, của sở tài nguyên môi trường làm cơ sở pháp lý để cùng các bộ
ngành liên quan ban hành văn bản hướng dẫn thêm nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác phối hợp đẩy nhanh tiến độ, cụ thể hóa từng công việc trong thi hành án.
- Tăng cường hoạt động phối hợp với các cơ quan ban ngành liên quan trong
quá trình xử lý nợ xấu. Trong đó, tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong
thủ tục phát mãi, xử lý tài sản là bất động sản, khâu thi hành án, hoàn chỉnh hồ sơ
pháp lý của tài sản …
- Đề nghị Nhà nước cần có chính sách bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải
kiểm toán hàng năm tại những cơ quan kiểm toán độc lập và có uy tín, được phép
hoạt động hợp pháp. Nhất là những công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
phải thực hiện kiểm toán bắt buộc ngay sau khi hoàn thành thủ tục cấp giấy phép kinh
doanh.
3.2.1.2. Cải cách, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 56
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
Trong xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa kinh tế hiện nay thì xu thế hội nhập
về kinh tế là điều tất yếu. Trong đó, ngành ngân hàng đóng vai trò chủ đạo là ngành
phải hội nhập trước để chuẩn bị cơ sở nền tảng cho các ngành kinh tế khác phát triển
và hội nhập theo. Điều này đã mang lại những cơ hội nhưng cũng đặt ra những thách
thức lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Để phát huy những mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực thì chính phủ và NHNN cần thực hiện một số biện pháp sau:
- Nâng cao tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương mại bằng cách tạo điều
kiện thuận lợi để các ngân hàng tăng vốn điều lệ, thúc đẩy các ngân hàng phát hành
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Đối với những ngân hàng yếu kém, đang phải
chịu sự kiểm soát đặc biệt hoặc ngân hàng không đủ năng lực tài chính thì kiên quyết
sáp nhập, giải thể hoặc cho phá sản.
- Tạo lập sân chơi bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh và
ngoài quốc doanh, không phân biệt đối xử, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, thúc
đẩy nhau cùng phát triển theo hướng ngân hàng quốc doanh phải là đầu tàu mạnh để
kéo cả hệ thống cùng phát triển.
- Xây dựng môi trường pháp lý cho hệ thống ngân hàng phù hợp thông lệ quốc
tế. Hệ thống kế toán ngân hàng phải thống nhất trong toàn bộ hệ thống, phù hợp theo
thông lệ quốc tế, thực hiện kiểm toán định kỳ và bắt buộc công khai tài chính các
TCTD.
- Quy định cụ thể lộ trình sắp xếp lại hệ thống NHTM quốc doanh và NHTM
ngoài quốc doanh phù hợp với đặc điểm của từng loại hình, từ đó nâng cao sức cạnh
tranh, tiến dần đến hòa nhập với hệ thống ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.
- Chính phủ và ngành ngân hàng cùng các ngành chức năng cần phải kiên quyết
xử lý ngay các tồn đọng cũ về nợ quá hạn, nợ khó đòi, lành mạnh hóa tình hình tài
chính của các NHTM đồng thời với việc hỗ trợ các ngân hàng trong việc xử lý tài sản
tồn đọng như: đơn giản về thủ tục, ưu đãi về thuế, phí… Việc phân loại nợ vay và
trích lập phòng ngừa rủi ro phải thực hiện theo chuẩn mực quốc tế.
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 57
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
- Cấu trúc lại các ngân hàng từ mô hình truyền thống sang mô hình hiện đại,
chuyên môn hóa theo đối tượng, chuyên môn hóa theo sản phẩm để chuẩn bị hội
nhập với ngân hàng nước ngoài. Cần trang bị, hiện đại hóa và kết nối hệ thống công
nghệ thông tin trong toàn ngành ngân hàng để tương thích trong toàn hệ thống, ứng
dụng công nghệ tin học vào dịch vụ thanh toán của toàn bộ hệ thống.
3.2.1.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm
soát, đánh giá của NHNN đối với hoạt động tín dụng ngân hàng
- NHNN phải bắt buộc tất cả các TCTD xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
độc lập, có đủ khả năng giám sát tất cả các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của
mình, là công cụ hoạt động có hiệu quả giúp cho việc điều hành ngân hàng giảm
thiểu rủi ro đến mức thấp nhất. Kiểm soát nội bộ có vai trò phòng ngừa rủi ro hoặc
phát hiện ra những rủi ro tiềm ẩn qua công tác giám sát thường xuyên hay kiểm tra
trực tiếp từ đó giúp cho công tác điều hành của các ngân hàng mang lại hiệu quả hơn.
- Công tác thanh tra, kiểm soát đối với các ngân hàng phải được tiến hành chặt
chẽ, không để xảy ra những sự cố xấu gây mất ổn định xã hội. Quy trình, thủ tục
thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực ngân hàng cần phải được quy định thống nhất.
- Theo dõi chặt chẽ việc chỉnh sửa, thực hiện của các tổ chức tín dụng đối với
những kiến nghị của thanh tra NHNN nhằm đảm bảo bảo hiệu lực và hiệu quả của
công tác thanh tra. Nội dung thanh tra cũng phải được cải tiến để có thể phát hiện kịp
thời những vi phạm của TCTD. Tăng cường vai trò của giám sát từ xa để sớm phát
hiện vi phạm từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.
- Hệ thống giám sát của thanh tra tín dụng Nhà nước cần phải được chấn chỉnh
và nâng cao, tổ chức học tập và nghiên cứu đầy đủ những văn bản có liên quan để
hoạt động giám sát, bố trí cụ thể cán bộ chuyên trách phù hợp và hiệu quả, trang bị
các thiết bị hiện đại hơn. Đảm bảo tính chủ động và độc lập trong việc khai thác và
sử dụng thông tin số liệu mà không cần phải chờ các TCTD cung cấp như hiện nay
(mà thường là chậm và có sai sót). Xây dựng một mạng thông tin số liệu của các tổ
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 58
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
chức tín dụng cập nhật đầy đủ để có thể cung cấp bất cứ lúc nào cho hoạt động giám
sát theo cách truy cập trực tiếp của thanh tra viên.
- Trình độ chuyên môn và đạo đức của thanh tra viên cũng phải luôn được nâng
cao đồng thời cũng có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Sắp xếp lại cho phù hợp đội ngũ
thanh tra, tổ chức thi tuyển để lựa chọn, bổ sung những cán bộ có năng lực, trình độ
chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt cho thanh tra ngân hàng, kể cả thanh tra ở các
chi nhánh NHNN.
3.2.1.4. Tăng cường sự hợp tác, sử dụng thông tin CIC (Credit
Information Center)
Trung tâm thông tin tín dụng CIC (Credit Information Center) là một tổ chức do
NHNN Việt Nam thành lập. Trung tâm này làm đầu mối thu thập và cung cấp thông
tin đối với các tổ chức tín dụng. Các thông tin này là cơ sở để hỗ trợ các tổ chức tín
dụng đầu tư có hiệu quả, ngăn ngừa, hạn chế và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh
doanh tiền tệ. Giúp NHNN nắm được chất lượng lượng tín dụng nhằm phục vụ cho
quá trình đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Ngoài ra trung tâm còn giúp các doanh
nghiệp có thêm thông tin cần thiết để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
- Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, nếu chất lượng thông tin càng cao thì
rủi ro trong kinh doanh tín dụng của các TCTD càng giảm. Nhưng thực tế hiện nay
các ngân hàng chưa có sự hợp tác tích cực với CIC vì chủ yếu là do muốn giữ bí mật
thông tin về khách hàng để cạnh tranh nên chất lượng thông tin từ trung tâm không
cao. Do vậy, NHNN cần phải có những biện pháp khuyến khích cũng như quy định
bắt buộc các ngân hàng hợp tác, cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho trung tâm.
Tuy nhiên, về phía trung tâm cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng và độ tin
cậy của thông tin nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thông tin rủi ro của
NHNN với các TCTD, nâng cao tính chính xác và tính pháp lý của các thông tin. Vì
thế cần có những quy định rõ ràng về việc cung cấp sử dụng thông tin, người cung
cấp thông tin sai lệch sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và có quy
định khen thưởng đối với các TCTD chấp hành tốt quy chế hoạt động thông tin tín
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 59
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
dụng. Nghiêm khắc xử phạt những ngân hàng cung cấp thông tin không chính xác,
không đầy đủ.
Hiện nay việc bán thông tin mới thực hiện một chiều tức là CIC thu phí khi
cung cấp thông tin, nhưng khi nhận thông tin từ ngân hàng thì CIC không phải trả
phí. Đây là điều không công bằng. Do đó để nâng cao chất lượng, độ tin cậy cũng
như tính pháp lý của thông tin, đề nghị CIC cũng phải trả phí cung cấp thông tin cho
ngân hàng (mua thông tin) và sẽ bán lại thông tin cho các ngân hàng khi cần.
3.2.1.5. Thành lập công ty xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam
Chức năng chính của công ty sẽ là phân tích, xếp hạng tín nhiệm các TCTD,
các doanh nghiệp, đánh giá và xếp hạng cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp. Công ty sẽ
nắm giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng.
Đối với các TCTD: nhằm hỗ trợ các TCTD trong việc ra quyết định cấp tín
dụng, giám sát và đánh giá khách hàng, kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn.
Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán : nhằm giúp họ có cơ sở để
tham khảo, đối chiếu kỹ càng trước khi ra quyết định đầu tư cuối cùng, giảm bớt rủi
ro khi đầu tư, giúp cho các công ty chứng khoán lựa chọn một danh mục đầu tư tốt
nhất, tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán được dễ dàng, thuận lợi
hơn.
Đối với doanh nghiệp: giúp doanh nghiệp Việt Nam xây dựng hình ảnh và độ
tín nhiệm của mình trong sản xuất, kinh doanh cũng như trong quá trình hội nhập
quốc tế.
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: đánh giá được đối tượng quản lý của
mình, có cơ sở để đưa ra những giải pháp thích hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển
nền kinh tế nói chung.
3.2.2. Một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại
ngân hàng Á Châu chi nhánh Kỳ Hòa
Hoạt động kinh doanh tiền tệ có ảnh hưởng quan trọng đến mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia. Thực trạng của hoạt động tín dụng của các
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 60
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
TCTD cũng được quan tâm sâu sắc. Đây là hoạt động kinh doanh trên rủi ro. Tuy
nhiên hoạt động tín dụng đóng góp phần lớn lợi nhuận của các TCTD ở nước ta hiện
nay. Vì thế công tác phòng ngừa và hạn chế RRTD được đặc biệt chú trọng. Để làm
được điều này chúng ta cần biết được nguyên nhân gây ra RRTD là gì. Thực tế có rất
nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra RRTD, biểu hiện của nó là nợ gia
hạn, nợ quá hạn, nợ xấu mà các khoản nợ này phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng
và quản lý RRTD tại ngân hàng. Những nguyên nhân khách quan thì không thể tránh
được nhưng những nguyên nhân chủ quan thì các TCTD có thể có những giải pháp
để phòng ngừa hoặc hạn chế được nó.
Mặc dù Chi nhánh có nợ quá hạn với tỷ lệ rất thấp tính đến thời điểm
31/12/2007 nhưng trong công tác phòng ngừa RRTD vẫn được chú trọng nhiều, xin
đưa ra một số giải pháp sau:
3.2.2.1. Đánh giá nhận định khách hàng
Ở các TCTD hiện nay ở Việt Nam thì việc đánh giá và thẩm định khách hàng
do cán bộ tín dụng đảm nhận. Việc đánh giá này chủ yếu được thực hiện đơn giản
bằng trực quan. Tất cả các thông tin khách hàng được thu thập một cách trực tiếp, rời
rạc và thiếu sự lựa chọn, tổng hợp… Điều này càng thể hiện rõ khi các TCTD chuyển
mạnh sang đầu tư vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Do chạy theo số lượng nên cán bộ tín dụng cũng như ngân hàng không thể theo
sát được khách hàng của mình. Vì thế một khi các khách hàng này có nhiều thay đổi
thì ngân hàng không thể điều tra, xem xét và bổ sung kịp thời theo những yêu cầu cần
thiết, nhất là những thông tin về tình hình tài chính, tình hình thực hiện phương án,
dự án kinh doanh, không đánh giá và nhận định kịp thời, do đó không thể có những
biện pháp kịp thời để khắc phục, dẫn đến nợ quá hạn gia tăng.
Do đó trước khi cấp tín dụng, ngân hàng cần biết rõ hoạt động của khách hàng
đặc biệt là khả năng tài chính và uy tín của khách hàng, xem xét thận trọng nhu cầu
và hiệu quả đầu tư tín dụng. Để đạt được điều đó thì ngân hàng phải có số liệu chính
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 61
Ch ng 3: M t s gi i pháp nh m phòng ng a và h n ch r i ro tín d ng t iươ ộ ố ả ằ ừ ạ ế ủ ụ ạ
ngân hàng
xác và toàn diện, kịp thời, trên cơ sở đó ngân hàng mới xác định khả năng hoàn trả
của khách hàng và thực hiện việc cấp tín dụng
3.2.2.2. Tăng tỷ trọng cho vay có tài sản bảo đảm
Tăng cho vay có tài sản bảo đảm cũng là một biện pháp thiết yếu trong việc
hạn chế RRTD. Việc thế chấp, cầm cố tài sản cũng là biện pháp để ràng buộc khách
hàng có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng. Trong trường
hợp có rủi ro xảy ra dẫn đến khách hàng không có khả năng trả đủ nợ hoặc trả không
đầy đủ cho ngân hàng thì việc thu hồi nợ được thực hiện bằng biện pháp cuối cùng là
phát mãi tài sản để trả nợ vay.
Đối với các ngân hàng ở nước ngoài thì thế chấp, cầm cố chỉ là biện pháp thứ
yếu, họ quản lý thông qua luồng tiền hoạt động kinh doanh hay thu nhập của khách
hàng. Tuy nhiên đối với các khách hàng ở nước ta thì ngân hàng chưa thể thực hiện
được như thế, hoạt động kiểm soát rủi ro của các ngân hàng còn thấp, độ tin cậy kém,
tính nghiêm minh của pháp luật còn ít hiệu lực trong các giao dịch tín dụng, do vậy
các ngân hàng hiện nay vẫn chú trọng chủ yếu vào tài sản bảo đảm bên cạnh xác định
tính khả thi của phương án/ dự án kinh doanh.
3.2.2.3. Không tập trung cấp tín dụng vào một ngàng hàng, nhóm khách
hàng
Để nâng cao hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng thì phương cách mở rộng
sử dụng vốn nhằm phân tán rủi ro là biện pháp phòng ngừa rủi ro tỏ ra hữu hiệu. Việc
phân tán rủi ro là vận dụng nguyên tắc “không đặt quá nhiều trứng vào một rổ”, ngân
hàng cần cấp tín dụng cho nhiều khách hàng khác nhau, đa dạng ngành hàng.
Ngân hàng không nên tập trung đầu tư khoản tín dụng lớn cho một hoặc một số
khách hàng lớn, nhóm khách hàng mà cần quan tâm tới những khách hàng nhỏ nhưng
chắc chắn. Đối với khách hàng nhỏ thì tỷ lệ xảy ra rủi ro là rất thấp, hơn nữa khi có
rủi ro xảy ra thì việc thu hồi nợ cũng tương đối đơn giản và nhẹ nhàng hơn. Nếu cho
vay theo nhóm khách hàng hoặc một vài ngành hàng đặc trưng thì khi có rủi ro xảy ra
thì sẽ ảnh hưởng liên đới đến các khách hàng liên quan.
SVTT: Phan Th H ng H nhị ồ ạ
Trang 62

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét