Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Pháp luật về giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị trường ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Về tác động đối với Doanh nghiệp: Với việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh không thông
qua cơ chế cấp phép, Doanh nghiệp đ-ợc chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh.
1.1.3. Sự cần thiết, vai trò và tác động của Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai
đoạn gia nhập thị tr-ờng.
a) Sự cần thiết của Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị
tr-ờng ở Việt Nam
- Về ph-ơng diện lý luận, sự quản lý của nhà n-ớc với riêng giai đoạn gia nhập thị tr-ờng
của Doanh nghiệp là hoàn toàn cần thiết. Nhằm mục đích bảo vệ lợi ích và trật tự công
cộng, Nhà n-ớc quản lý, kiểm soát đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều
kiện thông qua quá trình thẩm tra, cấp phép hoặc cấp đăng ký kinh doanh. Nhà n-ớc
có thể thu hồi Giấy phép và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi hoạt động của
tổ chức, cá nhân xâm hại lợi ích công cộng.
- Từ giác độ thực tiễn, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện cần sự quản lý nghiêm
khắc hơn của pháp luật; hiện cũng ch-a có công cụ quản lý khác -u việt hơn thay thế
toàn bộ hệ thống Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam cũng nh- trên thế
giới.
b) Vai trò của Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị tr-ờng
ở Việt Nam
- Đối với nhà n-ớc: Giấy phép và điều kiện kinh doanh là công cụ pháp lý để điều tiết
có hiệu quả hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong tính đa dạng của nền kinh tế
thị tr-ờng, trong quá trình đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân và tr-ớc yêu
cầu hội nhập, mở cửa nền kinh tế.
- Đối với các chủ thể kinh doanh: Giấy phép và điều kiện kinh doanh là công cụ kiểm
soát và hạn chế độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh.
- Đối với cộng đồng: Giấy phép và điều kiện kinh doanh h-ớng đến việc bảo vệ các lợi
ích đại chúng nh- vấn đề an ninh quốc phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền lợi
của ng-ời tiêu dùng,
- Đối với môi tr-ờng kinh doanh: Giấy phép và điều kiện kinh doanh là một trong các
công cụ kiểm soát và hạn chế độc quyền, góp phần đ-a lại một môi tr-ờng kinh doanh
bình ổn và phát triển bền vững.
c) Tác động của Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị
tr-ờng ở Việt Nam.
- Đối với nền kinh tế: Giấy phép và điều kiện kinh doanh đ-ợc xem xét nh- một loại
chi phí. Nếu Giấy phép và điều kiện kinh doanh dễ tiếp cận và tin cậy, chi phí cho
việc triển khai một kế hoạch kinh doanh sẽ giảm, từ đó một kế hoạch kinh doanh, một
dự án đầu t- sẽ đ-ợc quyết định thực hiện ở Việt Nam và ng-ợc lại.
- Đối với Doanh nghiệp: Giấy phép và điều kiện kinh doanh là cơ sở pháp lý để Doanh
nghiệp đ-ợc phép thực hiện một hoặc một số hoạt động kinh doanh nhất định. Tr-ờng
hợp Doanh nghiệp không tuân thủ, Doanh nghiệp đã vi phạm pháp luật, các giao dịch
có liên quan theo đó có thể bị tuyên bố vô hiệu. Ng-ợc lại, khi Doanh nghiệp lựa chọn
việc tuân thủ đầy đủ các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh nh-ng thủ
tục quá phức tạp, kéo dài và tốn kém, Doanh nghiệp có thể phải từ bỏ cơ hội kinh
doanh dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp, không nh- mong muốn.
1.1.4. Một số nguyên tắc áp dụng Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn
Doanh nghiệp gia nhập thị tr-ờng
- Việc áp dụng Giấy phép và điều kiện kinh doanh phải đảm bảo tôn trọng quyền tự do
kinh doanh của công dân;
- Các lợi ích mà Giấy phép và điều kiện kinh doanh bảo vệ luôn lớn hơn chi phí phát
sinh do phải áp dụng biện pháp quản lý này;
- Các Giấy phép và điều kiện kinh doanh cần đảm bảo tính cụ thể, đầy đủ và có thể giám
sát đ-ợc.
1.2. Cơ sở pháp lý của Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị
tr-ờng ở Việt Nam
1.2.1. Khái quát chung về pháp luật Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia
nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
Pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh là tổng thể các quy định pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Cơ quan nhà n-ớc và các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện
việc quản lý của nhà n-ớc đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh có các đặc điểm sau:
- Pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh điều chỉnh những quan hệ mang tính
chất hành chính giữa các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền tr-ớc
và trong khi thực hiện một hoặc một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
- Ph-ơng pháp điều chỉnh của pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh là
ph-ơng pháp mệnh lệnh và ph-ơng pháp hành chính;
- Pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh luôn gắn liền với các quy định về
ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai
đoạn gia nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
Pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
có 2 nội dung cơ bản:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về Giấy phép kinh doanh, bao gồm các quy định
về:
- Mục đích của Giấy phép;
- Tên Giấy phép;
- Đối t-ợng áp dụng của Giấy phép (ngành nghề hoặc hoạt động kinh doanh cần có Giấy
phép);
- Đối t-ợng đ-ợc cấp Giấy phép;
- Điều kiện, tiêu chuẩn để các các nhân, tổ chức có thể đ-ợc cấp phép, danh mục tài liệu cần
cung cấp và các loại giấy tờ khác kèm theo nếu có;
- Trình tự, thủ tục cấp Giấy phép;
- Cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền cấp phép và kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu của Giấy
phép;
- Thời hạn cho việc xem xét cấp Giấy phép;
- Hiệu lực và thời hạn có hiệu lực của Giấy phép;
- Các quy định về gia hạn, cấp lại, sửa đổi, bổ sung các nội dung đã ghi nhận trên Giấy phép;
- Các hình thức, hậu quả pháp lý khi có các vi phạm về điều kiện quy định trong Giấy phép;
- Các tr-ờng hợp thu hồi Giấy phép;
- Cơ chế khiếu nại, khởi kiện./
Thứ hai, các quy định về điều kiện kinh doanh (chủ thể kinh doanh cần tuân thủ mà
không cần nhận đ-ợc Giấy phép kinh doanh), bao gồm các quy định về:
- Điều kiện nhân sự;
- Điều kiện kỹ thuật;
- Điều kiện về năng lực tài chính;
- Điều kiện về nguồn vốn sở hữu;
- Các điều kiện khác.
1.2.3. Những nguyên tắc cơ bản của việc điều chỉnh pháp luật về Giấy phép và điều kiện
kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị tr-ờng ở Việt Nam.
Để thực sự là công cụ quản lý hiệu quả của Nhà n-ớc, pháp luật về Giấy phép và điều kiện
kinh doanh cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hợp pháp;
- Nguyên tắc hợp lý;
- Nguyên tắc đầy đủ, cụ thể, nhất quán;
- Nguyên tắc công khai, minh bạch;
- Nguyên tắc công bằng, bình đẳng;
- Nguyên tắc tham vấn.

Tóm lại: Giấy phép và điều kiện kinh doanh là công cụ quản lý không thể thiếu của mỗi
quốc gia. Cùng với vai trò không thể phủ nhận của nó đối với Nhà n-ớc, với các chủ thể kinh
doanh, với cộng đồng và với môi tr-ờng kinh doanh, Giấy phép và điều kiện kinh doanh có tác
động to lớn đến nền kinh tế và Doanh nghiệp với t- cách là một chủ thể kinh doanh. Pháp luật về
Giấy phép và điều kiện kinh doanh bao gồm hai nội dung chính: quy định của pháp luật về Giấy
phép kinh doanh và quy định của pháp luật về các điều kiện kinh doanh khác. Xuất phát từ vai trò
và tác động của bộ phận pháp luật này đối với Nhà n-ớc, với xã hội và với Doanh nghiệp, pháp
luật Giấy phép và điều kiện kinh doanh cần tuân thủ những nguyên tắc chung của pháp luật
th-ơng mại và những nguyên tắc riêng có của nó. Việc xây dựng các quy định cụ thể về Giấy phép và
điều kiện kinh doanh cũng cần đ-ợc đánh giá tác động pháp luật và rất cần tham vấn các chủ thể có
liên quan.


Ch-ơng 2
Thực trạng pháp luật
về GIấY PHéP Và ĐIềU KIệN KINH DOANH TRONG giai đoạn
GIA NHậP THị TRƯờNG ở việt nam
2.1. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về Giấy phép và điều kiện kinh doanh
2.1.1. Giai đoạn tr-ớc năm 1999
Giai đoạn này đ-ợc đánh dấu bởi hai giai đoạn phát triển mang tính chất đột phá của nền kinh
tế n-ớc ta: nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế sau đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (diễn ra từ ngày 15 đến ngày18-12-1986) đã đ-a ra
chính sách đổi mới nền kinh tế. Theo đó, pháp luật trong giai đoạn này đã có những thay đổi
đáng kể. Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp t- nhân năm 1990 là hai văn bản pháp lý cao nhất
điều chỉnh các mối quan hệ về quản lý nhà n-ớc đối với hoạt động kinh doanh và quy định về địa
vị pháp lý của các loại hình Doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong khuôn khổ pháp luật, Doanh
nghiệp, Công ty có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh. Các quy
định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh bắt đầu đ-ợc cụ thể hoá giúp nhà n-ớc quản lý các
hoạt động kinh doanh đảm bảo trật tự xã hội.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1999 đến tr-ớc ngày 1/7/2006
Giai đoạn này gắn liền với sự tồn tại của Luật Doanh nghiệp năm1999, Luật Doanh nghiệp
nhà n-ớc năm 2003, Luật đầu t- n-ớc ngoài năm1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật đầu t- n-ớc ngoài năm 2000.
Với sự ra đời của các văn bản Luật và d-ới Luật cơ bản nêu trên, lần đầu tiên thẩm quyền
cấm hay hạn chế kinh doanh đợc giới hạn vào 3 cơ quan thẩm quyền cao nhất: Quốc hội, ủy
ban Th-ờng vụ Quốc hội, Chính phủ. Quyền tự do kinh doanh đ-ợc cụ thể hóa bằng nguyên tắc
Doanh nghiệp đợc quyền kinh doanh tất cả những ngành, nghề mà pháp luật không cấm.
Tuy nhiên, pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn từ năm 1999 đến
tr-ớc ngày có hiệu lực của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng bộc lộ rất nhiều hạn chế: tồn tại sự
khác biệt giữa 03 văn bản luật nêu trên với tính chất là văn bản luật chuyên ngành có giá trị pháp
lý cao nhất quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh; Luật Doanh nghiệp năm 1999 không
chỉ ra một cách cụ thể những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cũng nh- nội dung các điều kiện
kinh doanh t-ơng ứng; vẫn tồn tại thực tế các Bộ, ủy ban nhân dân địa ph-ơng, xuất phát từ quan
điểm riêng của mình, bằng văn bản chính thức hoặc bằng tiền lệ cấm hoặc từ chối cấp Giấy phép
kinh doanh.


2.1.3. Giai đoạn từ 1/7/2006 đến nay
Giai đoạn này gắn liền với việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu t- năm 2005 đi
vào cuộc sống, tạo ra khung pháp lý bình đẳng giữa các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế. Xét riêng phần quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh, Luật Doanh nghiệp và Luật
đầu t- đã đ-a ra đ-ợc định nghĩa về điều kiện kinh doanh; đặt ra vấn đề rà soát, đánh giá Giấy
phép và điều kiện kinh doanh ngay trong Luật và sau cùng đặt ra yêu cầu xây dựng Nghị định về
Giấy phép và điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp và Luật đầu t- năm 2005 trong
quá trình áp dụng vẫn cho thấy những hạn chế sau: ch-a xây dựng đ-ợc một định nghĩa chính thức
mang tính pháp lý về Giấy phép kinh doanh; danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều
kiện kinh doanh cụ thể ch-a đ-ợc quy định thống nhất trong một văn bản luật mà đ-ợc cụ thể tại
Nghị định h-ớng dẫn của Chính phủ; tồn tại mâu thuẫn giữa Luật Doanh nghiệp và các văn bản
h-ớng dẫn thi hành; tồn tại mâu thuẫn giữa Luật Doanh nghiệp và Luật đầu t-; thiếu đồng bộ, nhất
quán giữa Luật Doanh nghiệp, Luật đầu t- với các văn bản pháp luật khác nh- Luật Đất đai, Luật
Bảo vệ môi trờng, Luật xây dựng,
2.2. Đánh giá các quy định của pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai
đoạn gia nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
2.2.1. Những tác động tích cực của pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai
đoạn gia nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
- Với các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh, Nhà n-ớc đã chủ động hơn trong
việc hạn chế và điều tiết những ngành nghề kinh doanh có khả năng gây ảnh h-ởng xấu
cho xã hội, kiểm soát và hạn chế đáng kể những tác động tiêu cực có thể có của các các
hoạt động kinh doanh đó;
- Bằng việc kiểm tra việc tuân thủ các yêu cầu của Giấy phép cũng nh- các điều kiện kinh
doanh, nhà n-ớc đã can thiệp nhanh và hiệu lực mạnh vào việc điều tiết phát triển các ngành
nghề trong nền kinh tế;
- Những ghi nhận và đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế, các Hiệp hội Doanh nghiệp về
môi tr-ờng kinh doanh Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy những kết quả tích
cực từ những cải cách khung pháp luật tại Việt Nam trong đó pháp luật về Giấy phép và điều
kiện kinh doanh là một thành tố quan trọng.
2.2.2. Một số hạn chế của pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia
nhập thị tr-ờng ở Việt Nam
a) Về tên gọi của Giấy phép và điều kiện kinh doanh
Về giấy phép kinh doanh, theo cuộc rà soát các quy định hiện hành về Giấy phép do Tổ
Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu t- thực hiện và công bố vào tháng 4 năm
2007, Giấy phép tồn tại d-ới nhiều tên gọi khác nhau:
Có 150 giấy đợc gọi là Giấy phép;
Có 53 giấy đợc gọi là Giấy chứng nhận;
Có 11 giấy đợc gọi là Giấy đăng ký;
Có 15 giấy đợc gọi là Chứng chỉ hành nghề;
Có 7 giấy đợc gọi là Thẻ;
Có 3 giấy đợc gọi là Phê duyệt;
Có 8 giấy đợc gọi là Văn bản xác nhận;
Có 17 giấy đợc gọi là Quyết định;
Có 4 giấy đợc gọi là Giấy xác nhận, bản cam kết, biển hiệu;
Có 10 giấy đợc gọi là Văn bản chấp thuận;
Có 2 giấy đợc gọi là Bằng.
Về các điều kiện kinh doanh khác, dù không thể có tên gọi chung thống nhất cho một
nhóm điều kiện kinh doanh nh-ng nội dung của phần lớn các điều kiện kinh doanh không rõ
ràng.
b) Về tính hợp pháp của các loại Giấy phép và điều kiện kinh doanh
Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định Giấy phép và điều kiện kinh doanh phải
đ-ợc quy định tại văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định hoặc Quyết định của Thủ t-ớng Chính phủ.
Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi Giấy phép th-ờng đ-ợc quy định ở nhiều loại văn bản. Phần lớn nội
dung chủ yếu và quan trọng đ-ợc áp dụng trong thực tế th-ờng đ-ợc quy định tại Thông t- hay
Quyết định của các Bộ.
Có quá nhiều Cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền quy định Giấy phép và điều kiện kinh
doanh. Điều này dẫn đến tình trạng rất khó để có đ-ợc một quy trình cấp phép thật rõ ràng, minh
bạch và nhất quán, đồng thời tạo điều kiện cho việc lạm quyền trong thực tiễn áp dụng.
c) Về tính cần thiết của Giấy phép và điều kiện kinh doanh đang đ-ợc áp dụng.
Kết quả cuộc rà soát các quy định hiện hành về Giấy phép do Tổ Công tác thi hành Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu t- thực hiện và công bố vào tháng 4 năm 2007 cho thấy quy định về
mục đích của các loại Giấy phép và điều kiện kinh doanh hiện đang đ-ợc áp dụng trên thực tế là
không rõ ràng. Trong một số tr-ờng hợp, rất khó để nhận biết đ-ợc lợi ích công cộng mà Giấy phép
và điều kiện kinh doanh bảo vệ. Bên cạnh đó cũng có một số Giấy phép và điều kiện kinh doanh không
nhằm hoặc h-ớng đến việc bảo vệ bất kỳ lợi ích công cộng nào (Giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm
là một ví dụ).
d) Về tính cụ thể và hợp lý của Giấy phép và điều kiện kinh doanh
- Không rõ và không cụ thể về chủ thể phải xin phép và đối t-ợng đ-ợc quản lý bằng
Giấy phép và điều kiện kinh doanh. Các quy định về Giấy phép thực hiện quảng cáo là
một trong những quy định tồn tại hạn chế nêu trên;
- Không rõ, không cụ thể và có phần không hợp lý trong quy định về điều kiện hay tiêu
chí để cấp phép. Ví dụ điển hình cho tr-ờng hợp này là các quy định điều kiện đối với
Giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm. Các điều kiện để cấp Giấy phép này theo Điều
12 Nghị định số 19/2005/NĐ CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ vừa thiếu tính cụ thể
vừa có phần can thiệp sâu và bất hợp lý vào quyền tự chủ của Doanh nghiệp. Trong khi
đó, một nội dung quan trọng liên quan đến quyền cơ bản của ng-ời sử dụng dịch vụ
cũng nh- hạn chế đ-ợc những sai phạm của các Doanh nghiệp, Trung tâm giới thiệu
việc làm là quy định về mức thu phí dịch vụ và mức hoàn phí dịch vụ cho ng-ời sử
dụng dịch vụ lại hoàn toàn không có quy định;
- Không thống nhất giữa các quy định khác nhau về cùng một loại Giấy phép và điều
kiện kinh doanh. Ví dụ, điểm d khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-
UBTVQH10 ngày 16 tháng 11 năm 2001 của Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội về Quảng
cáo quy định và điểm (đ) khoản 8 Mục II Thông t- số 43/2003/TT BVHTT. Thông
t- đã bổ sung thêm đối t-ợng phải cấp phép khi quy định về các hình thức t-ơng tự và
thêm quy hoạch quảng cáo vào điều kiện hoạt động quảng cáo.
e) Về hồ sơ cấp phép
Trong một số tr-ờng hợp, các quy định về hồ sơ cấp phép bộc lộ các hạn chế sau:
- Ch-a chuẩn hoá về nội dung và hình thức các giấy tờ cần có trong hồ sơ cấp phép;
- Khái niệm hồ sơ hợp lệ đợc sử dụng một cách phổ biến nhng gần nh không có sự
hớng dẫn cụ thể về tính hợp lệ của hồ sơ;
- Trong các giấy tờ tạo thành hồ sơ, tồn tại các giấy tờ thực chất là một Giấy phép tồn tại
d-ới hình thức xác nhận, chấp thuận, đồng ý, văn bản thẩm định. Đây thực chất
Giấy phép con của Giấy phép.
f) Về trình tự cấp phép
Thực tế cho thấy có các tr-ờng hợp điển hình về không cụ thể, rõ ràng về trình tự cấp
phép nh- sau:
- Không rõ ràng về thời điểm tính thời hạn cấp phép;
- Không tuân thủ quy định về thời hạn cấp phép;
- Phần lớn các quy định về việc xác nhận đã nộp/ đã nhận hồ sơ ch-a rõ ràng;
- Phần lớn các Giấy phép và điều kiện kinh doanh vẫn ch-a đ-ợc quy định cụ thể về
cách thức và nội dung công khai, minh bạch hoá các thông tin về Giấy phép, điều kiện
kinh doanh.
g) Về thời hạn và phạm vi hiệu lực của Giấy phép, gia hạn hiệu lực Giấy phép
Thời hạn của Giấy phép và điều kiện kinh doanh th-ờng ngắn. Theo kết quả điều tra 744
Doanh nghiệp do Phòng Công nghiệp và Th-ơng mại Việt Nam thực hiện năm 2001, thời gian có
hiệu lực của Giấy phép ban hành th-ờng là:
- Thời hạn ít hơn 3 tháng : 5,56% số Giấy phép;
- Thời hạn từ 3 tháng đến 1 năm : 36,29% số Giấy phép;
- Thời hạn từ 1 năm đến 3 năm : 30,65% số Giấy phép;
- Thời hạn nhiều hơn 3 năm : 14,11% số Giấy phép.
Phần lớn các quy định về Giấy phép hiện nay đều có quy định về việc gia hạn Giấy phép.
Tuy nhiên, nếu có dự định gia hạn, chủ thể kinh doanh phải làm thủ tục với hồ sơ, trình tự và điều
kiện gia hạn th-ờng áp dụng nh- đối với tr-ờng hợp xin cấp phép lần đầu, (ví dụ: Quy định gia
hạn Giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm cho Doanh nghiệp).
h) Về cơ quan cấp phép
Kết quả rà soát hệ thống các quy định về Giấy phép kinh doanh do Viện Nghiên cứu Kinh tế
trung -ơng (CIEM) tiến hành tháng 04 năm 2007cho thấy:
- Giấy phép do Cơ quan nhà n-ớc cấp Trung -ơng cấp:
155 Giấy phép
- Giấy phép do Cơ quan nhà n-ớc tại địa ph-ơng cấp:
56 Giấy phép
- Giấy phép vừa do Cơ quan nhà n-ớc cấp Trung -ơng vừa do Cơ
quan nhà n-ớc tại địa ph-ơng cấp:

69 Giấy phép
- Giấy phép không rõ cơ quan có thẩm quyền cấp:
7 Giấy phép
Nh- vậy, có thể nhận thấy số l-ợng Giấy phép do cơ quan địa ph-ơng cấp là t-ơng đối
lớn. Các Giấy phép do cơ quan Trung -ơng cấp phần lớn phải có ý kiến bằng văn bản của Uỷ ban
nhân dân tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành của địa ph-ơng cấp. Bên cạnh đó, việc phân
công, phân cấp giữa các Bộ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung -ơng trong việc cấp
các loại Giấy phép phần lớn là ch-a rõ ràng.
i) Về phí cấp phép
Phí cấp phép là vấn đề ít đ-ợc đề cập trên các diễn đàn khoa học về Giấy phép và điều kiện
kinh doanh cũng nh- từ phía Doanh nghiệp. Dù vậy, trong nhiều tr-ờng hợp, xuất phát từ những
khó khăn, bất cập nêu trên của Giấy phép và điều kiện kinh doanh, phụ phí đ-ợc yêu cầu bởi cơ
quan nhà n-ớc có thẩm quyền và đ-ợc chủ động đề xuất bởi chính các Doanh nghiệp nh- một nỗ
lực tài chính vận động cho việc cấp phép.
k) Về cơ chế giám sát việc ban hành Giấy phép và điều kiện kinh doanh; cơ chế giám sát
sau cấp phép/ sau khi cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh
Tr-ớc hết, về cơ chế giám sát việc ban hành Giấy phép và điều kiện kinh doanh, hiện
chúng ta còn thiếu cơ chế giám sát một cách hiệu qủa các quy định về Giấy phép và các điều kiện
kinh doanh. Theo quy định, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền xem xét văn bản quy phạm pháp
luật của Chủ tịch n-ớc, Chính phủ, Thủ t-ớng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, Quốc
hội n-ớc ta không phải là cơ quan hoạt động th-ờng xuyên, việc giám sát của Quốc hội đ-ợc thực
hiện thông qua các uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Hiện cũng không có quy định rõ
ràng về phạm vi, tính chất giám sát của các Uỷ ban thuộc Quốc hội. Trong hệ thống các cơ quan
hành pháp, Bộ T- pháp có chức năng giúp Thủ t-ớng Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung -ơng; kiến nghị xử lý, xử lý theo thẩm quyền hoặc xử lý các văn bản trái pháp luật
theo uỷ quyền của Thủ t-ớng Chính phủ. Trên thực tế, Bộ T- pháp mới thực hiện vai trò t- vấn và
phối hợp với các bộ và cơ quan chính phủ để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và
đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật chứ ch-a thực hiện chức năng đảm bảo tính hợp lý,
sự cần thiết hoặc thực thi hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật.
Về cơ chế giám sát sau cấp phép: Có thể nói, việc giám sát, quản lý theo Giấy phép và
điều kiện kinh doanh cũng không th-ờng xuyên đ-ợc thực hiện. Nhận định này đ-ợc minh chứng
bởi thực tế quản lý các Doanh nghiệp, Trung tâm giới thiệu việc làm sau cấp phép và thực trạng
quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở n-ớc ta trong thời gian gần đây.
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia
nhập thị tr-ờng ở Việt Nam.
2.3.1. Thực tiễn tuân thủ pháp luật về Giấy phép và điều kiện kinh doanh của các chủ thể kinh
doanh.
Có thể nói, với những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về Giấy phép và điều
kiện kinh doanh, các Doanh nghiệp rất khó để biết đ-ợc một cách chính xác các điều kiện để đ-ợc cấp
phép hoặc đ-ợc phê duyệt đủ điều kiện kinh doanh. Trên thực tế đã có tr-ờng hợp Doanh nghiệp vô tình
vi phạm các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh. Trong nhiều tr-ờng hợp khác, Doanh
nghiệp phải đặt mình tr-ớc các lựa chọn: (i) Tuân thủ các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh
doanh mà không biết chính xác khi nào đ-ợc cấp phép hoặc đ-ợc phê duyệt đủ điều kiện kinh doanh;
(ii) Vẫn kinh doanh mà không xin cấp phép; (iii) Xin cấp phép và làm hồ sơ cho đủ thủ tục về mặt hình
thức chứ hoàn toàn không đáp ứng các yêu cầu về mặt nội dung theo quy định của pháp luật; (iv) Từ bỏ
ý định kinh doanh.
2.3.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh của các cơ
quan Nhà n-ớc có thẩm quyền.
Với các quy định về Giấy phép và điều kiện kinh doanh, trong thực tế còn tồn tại những hạn
chế sau:
- Quyết định cấp phép, phê duyệt đủ điều kiện kinh doanh phần lớn phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét