Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Phương hướng và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu chè của Việt Nam

ĐỀ ÁN
Chè được trồng chủ yếu ở trung du, miền núi và có giá trị kinh doanh
tương đối cao. Một ha chè thu được 5 - 6 tấn chè búp tươi (nhiều năm nay có giá
tương đương thóc), có giá trị ngang với một ha lúa ở đồng bằng và gấp 3 - 4 lần
một ha lúa nương. Vì vậy có thể nói cây chè là cây "xoá đói giảm nghèo, điều
hoà lao động từ đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển
kinh tế miền núi bảo vệ an ninh biên giới.
Sản xuất và xuất khẩu chè thu hút một lượng lao động khá lớn (hơn 22
nghìn lao động chính kể cả lao động chính, kể cả lao động phụ và lao động dịch
vụ là gần 300 nghìn người với mức thu nhập ổn định và không ngừng tăng (thu
nhập bình quần quân toàn ngành năm 1996 đạt 250 nghìn đồng/người/tháng,
năm 9 tăng lên 350 nghìn người/tháng).
Trồng chè cũng chính là "phủ xanh đất trồng đồi trọc", cải thiện môi
trường sinh thái. Với phương châm trồng chè kết hợp nông lâm, đào dãy hào
giữa các hàng chè để giữ mùn giữ nước, sử dụng phân bón hợp lý… ngành chè
đã gắn kết được phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Chè là một sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao và tiềm năng xuất khẩu lớn.
+ Một ha chè thâm canh thu hoạch được 10 tấn búp tươi chế biến được
hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ thu được một lượng ngoại tệ tương đương
với khi xuất khẩu 200 tấn than và đủ để nhập khẩu 46 tấn phân hoá học.
+ Trên thế giới có khoảng 30 nước trồng chè nhưng có tới 100 nước uống
chè. Như vậy tiềm năng về thị trường của chè Việt Nam rất dồi dào. Tuy nhiên,
tốc độ phát triển cây chè của ta so với thế giới còn chậm. Năm 1939, Việt Nam
xuất khẩu 2400 tấn chè - đứng hàng thứ 6 trên thế giới, đến nay, Việt Nam xuất
khẩu được hơn 20.000 tấn chè - đứng hàng thứ 17. Có thể thấy, trong vòng 60
năm, sản lượng xuất khẩu của ta tăng 8 lần những vị trí của ta đã tụt đến 10 bậc.
+ Sản xuất chè của ta có nhiều thuận lợi: Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu
rất thích hợp với cây chè. Quỹ đất trồng chè lớn (khoảng 20 vạn ha) trong khi
hiện nay ta mới chỉ trồng được khoảng 7 vạn ha. Bên cạnh đó, lao động vốn là
5
ĐỀ ÁN
lợi thế so sánh của nước ta, đặc biệt là lao động nông nghiệp với kinh nghiệm
lâu đời trong trồng về chế biến chè.
Tóm lại, có thể kinh ngạch xuất khẩu chè còn kém xa các mặt hàng mũi
nhọn khác (dầu mỏ, than, gạo…) nhưng xét đến những tác động tích cực của nó
về mặt xã hội và để tận dụng mọi nguồn lực hiện có, chúng ta nên tiếp tục phát
triển sản xuất và xuất khẩu chè trong thời gian tới.
3. Vai trò của xuất khẩu chè
Chè là một cây công nghiệp dài ngày,thích hợp với khí hậu và đất đai ở
miền núi phía bắc và trung du của nước ta.Cây chè còn đem lại nhiều nguồn lợi
cho chúng ta việc xuất khẩu đã có một số vai trò rất quan trọng như:
- Để phục vụ cho việc xất khẩu chè thì trước hết chúng ta phải có các
vung chuyên trông cây chè, như đồi núi ở trên thì cây chè thường phân bố ở
trung du và miền núi. Đây là những nơi mà việc trồng lúa rất khó khăn. Do vậy
cây chè đã trở thàng một trong những cây chủ lực ở những khu vực này để xoá
đói giảm nghèo,tạo ra nhiều công ăn việc lam cho những người sống ở khu vưc
này,chánh được hiện tượng nông nhàn trong nộng nghiệp và nó còn tạo ra một
lượng thu nhập đáng kể cho những người trồng chè,góp phần nâng cao mức sống
cho nhân dân ở vùng miền núi vốn rất khó khăn và cuộc sống rất cực nhọc.Do
vậy việc xuất khẩu chè có một vai trò to lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm
cho người lao động. Không những nó có vai trò về kinh tế mà nó còn có vai trò
về an ninh quốc phòng, việc định canh định cư của các người trồng chè trên
những vùng cao và hẻo lánh đã đảm bảo được an ninh biên giới của nước ta.
Việc trồng chè để xuất khẩu cung có một vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái. Như chúng ta đã biết hiện nay lạm chặt phá rừng ngày càng
diễn ra mạnh mẽ công với việc du canh du cư chặt lương phá dãy của một số các
đồng bài dân tộc đã hủy hoại môi trường sống của chúng ta. Việc trồng chè để
phục vụ xuất khẩu đã phủ xanh đất trống đồi núi trọc, còn góp phần điều hoà
không khí, ngoài ra cây chè còn một số tác dung trong nghành y học.
6
ĐỀ ÁN
-Xuất khẩu chè tạo ra một nguồn vốn đáng kể cho đất nước, góp phần vào
công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Chè là một trong những mặt
hàng nông sản xuát khẩu chủ lực của nước ta, hàng năm mang về cho đất nước
rất nhiều ngoại tệ để thúc đẩy công nghiệp háo hiện đại hoá đất nước như: Năm
2000 đã xuất khẩu được 45 ngàn tấn mang về cho đất nước khoảng 56 triệu
USD, năm 2001 đã xuất khẩu được 40000 tấn tăng 9,94% só với năm 2000 đạt
kim ngạch xuất khẩu 70triệu USD, 5 tháng đầu năm 2002 đã xuất khẩu được
25000 tấn đạt giá trị 28 triệu USD.Tuy mhữmg con số này vẫn chưa thực cao
trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta những xuất khẩu chè cũng đã
đóng góp một nguồn vốn dáng kể cho đất nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá.
Khin xuất khẩu chè thì chúng ta xẽ mở rộng được thị trường tiêu thu và
giao lưu học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm của các nước bạn. Hiện nay
chúng ta xuất khẩu sang hơn 40 nước khác nhau. Từ đó tạo ra nhiều mối quan
hệ kinh tế cho các doanh nghiệp trong ngành chè nói riêng và các doanh nghiệp
trong cả nướ nói chung, xuất khẩu chè ra nhiều thỉtường thì làm cho các doanh
nghiệp của chúng ta có thể tiếp thu được các thông tin nhanh hơn, và sáng tạo
hơn.
Xuất khẩu chè thì chúng ta đã tạo ra sự ổn định cho những người chồng
chè về mặt tiêu thụ sản phẩn tư đó họ yên tâm hơn với công việc của mình . Do
đó chất lượng chè cũng phần nào được cải thiện từ đó nâng cao được khả năng
cạnh tranh chè của nước ta trên thị trường thế giới.Và khi có thị trường tiêu thị
ổnt định thì người chồng chè xẽ yên tâm và gắn bó với nghề của mình nhiều
hơn.
II.QUY TRÌNH XUẤT KHẨU CHÈ CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
Trong việc sản xuất và xuất khẩu chè của cảc nước thì Tổng công ty chè
Việt Nam đóng một vai trò vô cùng quan trọng, và có thể nói hầu hết chè được
xuất khẩu là của Tổng công ty và sau đây là quá trình xuất khẩu mà Tổng công
ty chè Việt Nam đang thực hiện. Có thể nói đây cũng là quá trình xuất khẩu chè
ở các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu chè của chúng ta đang thực hiện.
7
ĐỀ ÁN
1.Công tác tạo nguồn hàng
Chủ động được nguồn hàng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng của hàng xuất khẩu và tiến độ giao hàng, đến
việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu, uy tín của Tổng công ty và hiệu quả kinh
doanh , Tổng công ty chè Việt Nam thường sử dụng một số hình thức tạo nguồn
chủ yếu như:
- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu theo hợp đồng ( mua đứt bán đoạn ).
Đây là hình thức thu mua chủ yếu của Tổng công ty , chiếm gần 80% giá
trị hàng hoá thu mua. Sau khi Tổng công ty và nhà cung cấp đạt được những
thoả thuận về mặt số lượng, chất lượng, phương thức thanh toán… thì hai bên
mới tiến hành kí kết hợp đồng kinh tế.
- Phương thức uỷ thác.
Là phương thức mà Tổng công ty dùng danh nghĩa của mình để giao dịch
với khách nước ngoài nhằm thoả thuận với các điều khoản liên quan đến hợp
đồng xuất khẩu dư định sẽ kí kết và tổ chức bán hộ hàng cho người uỷ thác.
Phương thức này chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong hoạt động kinh doanh
xuất khẩu của Tổng công ty.
- Phương thức đầu tư, liên doanh liên kết.
Theo phương thức này, Tổng công ty sẽ bỏ vốn ra đầu tư vào các đơn vị
sản xuất chế biến hàng xuất khẩu theo các hợp đồng ngắn hạn, trong đó Tổng
công ty chịu trách nhiệm tiêu thụ các sản phẩm được sản xuất ra . Đây là phương
thức được Tổng công ty áp dụng chủ yếu đối với công tác thu mua tạo nguồn
hàng nông sản - một mặt hàng chiếm hơn 45% tổng giá trị kinh ngạch xuất khẩu
của Tổng công ty . Tổng công ty thường hỗ trợ vốn, công nghệ, kỹ thuật cho các
nguồn sản xuất chứ không trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động sản xuất.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng của Tổng công ty được thực hiện theo
quy trình sau:
+ Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu: Dựa trên các đơn đặt hàng của khách
hàng và các hợp đồng đã ký kết, Tổng công ty tiến hành nghiên cứu khả năng
8
ĐỀ ÁN
cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trường, khả năng cung cấp hàng được xác định
bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Đối với nguồn hàng thực tế,
Tổng công ty chọn nhà cung cấp có khả năng đáp ứng được yêu cầu của đơn
hàng. Đối với nguồn hàng tiềm năng thì Tổng công ty tiến hành đầu tư, liên
doanh liên kết với các nhà sản xuất chế biến hàng xuất khẩu để kịp thời đáp ứng
hợp đồng mà Tổng công ty đã ký kết.
+ Tiếp cận và đàm phán với nhà cung cấp: Trên cơ sở đã xác định được
nhà cung cấp, Tổng công ty tiếp cận đàm phán về các điều kiện của đơn hàng,
thoả thuận và ký kết hợp đồng.
+ Tổ chức thực hiện hợp đồng mua bán: Sau khi hoàn tất các thủ tục giấy
tờ, Tổng công ty tiến hành tiếp nhận hàng hoá, vận chuyển về kho của Tổng
công ty hoặc tiếp nhận tại Cảng xuất khẩu.
Trong nhiều năm gần đây, công tác tạo nguồn hàng xuất khẩu đã trở thành
một mặt mạnh của Tổng công ty, góp phần quan trọng vào hoạt động xuất khẩu
làm hoạt động này ngày càng được thực hiện có hiệu quả hơn.
2.công tác giao hàng xuất khẩu:
Nghiệp vụ này bao gồm các khâu sau:
- Chuẩn bị hàng:
Sau khi đưa hàng được thu mua về kho, đội ngũ cán bộ chuyên môn của
Tổng công ty tiến hành kiểm tra chất lượng của hàng hoá nhằm đảm bảo quyền
lợi cho khách hàng, kịp thời ngăn chặn các hậu quả xấu đồng thời cũng góp phần
bảo đảm uy tín của nhà sản xuất cũng như cuả Tổng công ty trong quan hệ buôn
bán.
Như vậy, công tác chuẩn bị hàng bao gồm việc kiểm tra chất lượng, số
lượng, trọng lượng, bao bì đóng gói, kẻ ký mã hiệu để hoàn thiện hàng theo
đúng yêu cầu của đơn đặt hàng. Trong trường hợp hàng hoá cần giám định,
Tổng công ty thường phải thuê một tổ chức giám định trung gian là tổ chức giám
định hàng Quốc tế SGS hoặc VINACONTROL. Còn thông thường, cán bộ của
Tổng công ty sẽ trực tiếp kiểm tra nếu trong hợp đồng không yêu cầu rõ cấp
9
ĐỀ ÁN
giám định. Kết thúc kiểm tra bao giờ cũng phải lập một chứng từ bằng tiếng Việt
và một bản bằng tiếng nước ngoài ( tuỳ theo yêu cầu của khách ngoại ).
- Ký kết hợp đồng vận tải:
Tổng công ty ký kết hợp đồng vận chuyển để đưa hàng hoá ra cảng xuất
khẩu, sau đó tiến hành bốc dỡ hàng xuống cảng để Hải quan kiểm định hàng
hoá. Tổng công ty thường xuất hàng theo giá CIF ( CF ). Đây là một thuận lợi
đáng kể cho Tổng công ty vì Tổng công ty được quyền thuê tàu và mua bảo
hiểm cho hàng hoá.
- Hoàn thiện thủ tục giấy tờ:
Khi làm thủ tục xin giấy phép xuất khẩu, Tổng công ty thường phải chuẩn
bị một số giấy tờ quan trọng sau:
+ Hợp đồng thương mại ( bản chính và bản sao ).
+ Bản dịch hợp đồng.
+ Hạn nghạch ( QUOTA ) nếu hàng được xuất theo hạn nghạch.
+ Giấy chứng nhận xuất xứ.
+ Giấy chứng nhận kiểm dịch vệ sinh hàng hoá.
+ Các giấy tờ có liên quan khác.
- Tổ chức khai báo làm thủ tục Hải quan:
Ở khâu này, Tổng công ty có trách nhiệm xuất trình đầy đủ giấy tờ, sắp
xếp hàng, mở hàng để Hải quan kiểm tra.
- Giao hàng lên tàu và lập vận đơn:
Công tác này Tổng công ty thường uỷ quyền cho hãng vận tải, đại diện
của Tổng công ty sẽ lấy biên lai thuyền phó, sau đó đổi lấy vận đơn sạch. Vận
đơn sẽ được chuyển qua bộ phận kế toán để lập bộ chứng từ thanh toán.
3.Công tác thanh toán:
Nghiệp vụ thanh toán bao gồm các khâu vay vốn thanh toán nguồn hàng
( xin vốn từ nguồn ngân sách cấp ) và nhận tiền thanh toán của khách ngoại ( bên
nhập ).
10
ĐỀ ÁN
Đối với thanh toán đầu vào, nguồn vốn có thể từ nguồn vốn tự có, hoặc từ
nguồn ngân sách Nhà nước cấp và đôi khi cũng từ nguồn vay ngắn hạn ngân
hàng.
Có thể nói thanh toán là khâu trọng tâm và kết quả cuối cùng của tất cả
các giao dịch kinh doanh, đặc biệt với hoạt động buôn bán quốc tế. Chính bởi
tầm quan trọng cũng như phức tạp của nó mà nó có ảnh hưởng không nhỏ đến
hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của Tổng
công ty. Trong số các hình thức thanh toán mà Tổng công ty vẫn sử dụng như
thanh toán đổi hàng… thì thanh toán bằng thư tín dụng L/C được sử dụng nhiều
nhất vì đây là một phương thức thanh toán đảm bảo, thuận tiện an toàn lại hạn
chế được rủi ro cho cả hai bên mua và bán.
III.NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU CHÈ
1.Chất lượng chè
Đây là điều kiện tiên quyết vì công nghệ dù có hiện đại đến đâu cũng
không thể tạo ra sản phẩm tốt từ những nguyên liệu tồi. Chất lượng chè búp tươi
được quyết định bởi các yếu tố:
*. Giống chè:
Có nhiều giống chè nhưng một số giống chính đã chiếm phần lớn diện
tích. Phía Bắc trồng phổ biến 3 giống: Chè Shan ở vùng cao, chè Trung du và
PH1 ở vùng thấp. Ngoài ra còn có các giống mới khác như: LĐP1, LĐP2,
TR777, Vân Xương, Bát Tiên, Ngọc Thuý, Yabukita và 17 giống của Nhật đang
khảo nghiệm, chiếm diện tích chưa đáng kể. Phía Nam có các giống Shan, Ấn
Độ, TB11, TB14…Trong các giống trên, giống Trung du chiếm diện tích lớn
nhất ( 59% tổng diện tích ), sau đó đến giống Shan ( 27,3% ) còn lại là PH1 và
các giống khác. Chỉ có giống Shan cho chất lượng khá, còn lại các giống Trung
du và PH1 cho năng suất khá nhưng chất lượng không cao, vị chè hơi đắng,
hương kém thơm. Trong những năm qua, Viện nghiên cứu chè đã có nhiều cố
gắng trong việc nhập nội thuần hoá, chọn lọc cá thể và lai tạo giống nhằm tạo ra
một tập đoàn giống tốt và phong phú, tuy nhiên công tác này diễn ra còn chậm.
11
ĐỀ ÁN
Có thể nói giống chè ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chè xuất khẩu, hiện
nay chung ta vẫn chưa có nhiều giống chè có năng suất và chất lượng cao ngoại
trừ chè Shan.
* Quy trình thâm canh:
Đầu tư cho trồng và chăm sóc chè đều thấp so với yêu cầu trung bình, đầu
tư cho trồng là 6 – 7 triệu đồng/ ha đạt 40%, và cho chăm sóc là 3 – 3,5 triệu
đồng/ ha đạt 80%. Ở những vùng nghèo, tỉ lệ này còn thấp hơn, thậm chí có
vườn chè nhiều năm không được bón phân. Quy trình kỹ thuật chưa được thực
hiện nghiêm túc, không thâm canh ngay từ đầu. Bón phân chưa đủ, thiếu cân
đối, nặng về phân đạm thiếu hữu cơ và vi lượng. Cơ cấu phân bón như vậy
không những làm nghèo đất, kiệt quệ cây chè, mà còn làm tăng vị đắng chát,
giảm hương thơm của sản phẩm. Cá biệt, một số đơn vị áp dụng công thức bón
phân cân đối đã tạo nên chất lượng chè rất đặc trưng như Mộc Châu, Thanh
Niên. Đặc biệt, vấn đề nghiêm trọng đáng báo động hiện nay là việc sử dụng
thuốc trừ sâu tuỳ tiện, không đúng liều lượng, chủng loại và quy trình. Hậu quả
là dư lượng thuốc trừ sâu trong sản phẩm vượt quá mức cho phép ; qua kiểm tra
sản phẩm của 5 đơn vị với 15 mẫu, đã phát hiện 4 mẫu ( 26% ) của 3 đơn vị có
dư lượng thuốc trừ sâu cao.
*Thu hái:
Có thể coi thu hái là khâu cuối cùng trong công đoạn sản xuất nông
nghiệp, sản phẩm của công đoạn này là những búp chè tươi sẽ được dùng làm
nguyên liệu cho công đoạn sau. Để đảm bảo chất lượng, việc hái chè phải tuân
thủ nguyên tắc “một tôm hai lá” nghĩa là chỉ hái 1 búp và 2 lá non nhất. Trong
những năm gần đây, việc hái chè và thu mua chè búp tươi không theo tiêu chuẩn
đã diễn ra trong hầu khắp cả nước ; điển hình là ở những vùng buôn bán chè sôi
động như Yên Bái, Phú Thọ, Lâm Đồng. Ở những vùng này, vào thời điểm
chính vụ, nhiều đơn vị không mua được chè B, thậm chí cả chè C nếu xét đúng
tiêu chuẩn. Nhiều nơi không có khái niệm chè A,B. Chè hái quá già ( 5 – 7 lá )
12
ĐỀ ÁN
và lẫn loại đã gây trở ngại cho quá trình chế biến, thiết bị chóng hư hỏng và tất
cả dẫn đến chất lượng thấp, hàng kém sức cạnh tranh.
*Vận chuyển:
Khi búp chè đã hái ra khỏi cây thì dù muốn dù không công đoạn chế biến
cũng đã được bắt đầu, đó là quá trình héo. Từ đây, búp chè đã phải tham gia vào
quá trìnhvới những đòi hỏi khắt khe về thời gian và điều kiện bảo quản. Chính vì
vậy, vận chuyển chè búp tươi có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm.
Hiện nay, khâu vận chuyển còn có nhiều nhược điểm : Thứ nhất, số lần cân
nhận, thu mua và vận chuyển trong ngày ít, thường chỉ 2 lần/ ngày ( so với Ấn
Độ là 4 – 6 lần/ ngày ), nên chè thường bị lèn chặt ở sọt hái trong thời gian dài,
dẫn đến bị ngốt, nhất là vào mùa hè. Thứ hai, khoảng cách vận chuyển xa làm
kéo dài thời gian vận chuyển. Thứ ba, không có xe chuyên dùng chở chè và
không thực hiện đúng quy trình vận chuyển cũng dễ gây ôi ngốt dập nát.
* Chất lượng sản phẩm xuất khẩu:
Tỷ trọng các mặt hàng hiện nay của Tổng công ty là OP – 10%, FBOP –
25%, P – 8%, PS – 18%, BPS – 25%, F – 10%, Dust – 4%. Như vậy tỉ lệ 3 mặt
hàng tốt mới chỉ đạt 43%, Tổng công ty đang phấn đấu đưa tỉ lệ này lên 60%,
đây mới là con số tính cho toàn Tổng công ty. Còn chất lượng sản phẩm của
từng đơn vị lại có sự khác biệt. Từ các đơn vị ở các vùng chè có độ cao khác
nhau, ta thu được những sản phẩm có chất lượng khác nhau.
- Vùng chè có độ cao trên 500m: ( Sơn La, Lai Châu, Tây Nguyên, vùng
cao nguyên Yên Bái, Hà giang ) có ưu thế về khí hậu, giống chè ( chủ yếu là chè
Shan ), nên chất lượng nguyên liệu rất cao. Nếu thu hái chế biến tốt có thể cho
sản phẩm chất lượng tương đương với chè Darjeeling nổi tiếng của Ấn Độ.
Nhưng trên thực tế, chất lượng chè ở các đơn vị này chưa cao và không đồng
đều. Vì nhiều lý do khác nhau, sản phẩm có nhiều khuyết tật như nhiều cẫng lẫn
loại, nhẹ cánh, ôi ngốt. Ở nhiều đơn vị, chất lượng chè chưa tương xứng với tiềm
năng đất đai và khí hậu.
13
ĐỀ ÁN
Tuy vậy, vùng này có công ty chè Mộc Châu nổi tiếng không chỉ trong
vùng mà còn trong cả nước về sự tiến bộ vượt bậc trong thời gian gần đây. Chất
lượng chè đen xuất khẩu của công ty đã được nâng lên rõ rệt, từ 63% mặt hàng
cao cấp năm 1994 lên 86% năm1998, đặc biệt chè đen OP ( loại1 ) từ 1,9% năm
1994 lên 31% năm 1998, tăng gấp 16,31 lần.
- Vùng chè có độ cao dưới 500m: ( Yên Bái, Phú Thọ, Nghệ An, Thái
Nguyên ), giống Trung du và PH1, sản phẩm có vị chát hơi đắng, hương thơm
chưa được đặc trưng. Khuyết tật lớn nhất là tỉ lệ cẫng cao, nhẹ cánh, nhanh chua
thiu.
Một số đơn vị có chất lượng sản phẩm khá như Trần Phú, Thanh Niên,
Phú Sơn, Quân Chu. Nổi bật là chè Trần Phú có nội chất đặc trưng không thua
kém chè vùng cao. Các đơn vị còn lại, nhiều đơn vị có điều kiện về nhà xưởng,
thiết bị, vườn chè nhưng do chạy theo số lượng, ít quan tâm đến chất lượng nên
chất lượng sản phẩm chưa cao. Các xưởng nhỏ không đảm bảo công nghệ và vệ
sinh công nghiệp để chế biến chè đen thi nhau mọc lên, chiếm nhiều nguyên liệu
tốt nhưng cho sản phẩm đầy khuyết tật. Các sản phẩm này đáng ra để tiêu thụ
riêng nhưng một số nhà máy lại sử dụng để đấu trộn với chè tốt làm ảnh hưởng
tới giá chè chung.
2.Môi trường chính trị luật pháp và các chính sách của nhà
nước
*Môi trường chính trị và hành lạng pháp lý của một quốc gia có ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại
quốc tế nói riêng. Sự ổn định về mặt chính trị sẽ giúp cho mối quan hệ giữa hai
bên được thưc hiện. Chính vì vậy, trước khi đặt quan hệ với đối tác, các doanh
nghiệp cần tìm hiểu và tuân thủ các quy định cảu chính phủ các nước liên quan,
tập quán và luật pháp quốc tế liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động
xuất khẩu. Trong nhiều trường hợp yếu tố chính trị và pháp luật trở thành tiêu
thức buộc các nhà kinh doanh phải tuân thủ khi lựa chon thị trường xuất khẩu.
Với ngành chè thì cũng vậy khi chúng ta xuất khẩu sang một nước nào đó thì
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét