Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Kế hoạch và giải pháp huy động vốn đầu tư trong nước của Việt Nam

Vốn ODA trong những năm tới phụ thuộc vào quan hệ giữa nước ta với
các nước, vốn ODA coi trong sử dụng cho các lĩnh vực phát triển nguồn nhân
lực và vốn FDI chúng ta đã đẩy mạnh việc thu hút vốn FDI chúng ta đã đẩy
mạnh việc thu hút vốn FDI thông qua các dự án đầu tư vào các khu công
nghiệp và khu chế suất
2- Vai trò của vốn đầu tư trong nước
2.1. Vai trò của vốn trong nước đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã xác định mục
tiêu: "đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Nâng cao rõ rệt hiệu
quả và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp và nền kinh tế, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng thiết
yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu. Văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ IX chỉ ra:
Đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995, giá trị sản xuất nông -
lâm - ngư nghiệp tăng 4,8%/năm, công nghiệp tăng 13% /năm dịch vụ tăng
7,5%/năm. Để thực hiện được mục tiêu trên thì tỷ lệ tích luỹ nội địa sẽ có khả
năng nâng lên 28 - 30% GDP. Trong đó tích luỹ từ khu vực ngân sách khoảng
6% thì khu vực dân cư doanh nghiệp 22 - 24% GDP
Các nhà khoa học cũng dự tính rằng cơ cấu ngành trong GDP của Việt
Nam vào năm 2020 như sau: Nông nghiệp chiếm 15 - 20% GDP còn công
nghiệp và dịch vụ chiếm 80 - 85% GDP. Theo nhiều tính toán cho thấy đến
năm 2020 cơ cấu của sản phẩm xuất khẩu như sau: 10 - 15% sản phẩm sơ cấp,
85 - 90% sản phẩm chế biến lâm nghiệp. Tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm
khoảng 25 - 30 GDP.Để những nục tiêu trở thành hiện thực. Trong thời gian
5
tới Việt Nam cần có một nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, trong đó nguồn vốn trong nước là chủ yếu
2.2. Các nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước
Cơ sở hình thành vốn đầu tư. theo JRQ. Kynes đó là từ nguồn tiết kiệm
ông cho rằng:
Tổng đầu tư = Tổng tiết kiệm
Trong nền kinh tế, hàng năm người ta đều tạo ra một khối lượng giá trị
hàng hoá và dịch vụ cuối cùng họi là tổng sản phẩm quốc dân GDP tuỳ theo
mục đích khác nhau. Một trong những cách xác định GDP là căn cứ vào mục
đích sử dụng của nó, theo cách này GDP được chia thành 2 bộ phận chính
Tiết kiệm quốc dân (Su)
Tiêu dùng quốc dân (C)
=> GDP = Su + C (1)
Tiết kiệm là nguồn giành cho đầu tư. Theo công thức (1) thì tiết kiệm
tăng sẽ làm cho chênh lệch giữa GDP và tiêu dùng C càng lớn
Su = GDP - C
Căn cứ vào công thức (1) ta cũng có thể khai thác nguồn vốn đầu tư bằng
ccác biện pháp kích thích sử dụng tiết kiệm vào mục đích đầu tư. Hệ số tiết
kiệm được tính bằng công thức:
S =
Su
Y
=
I
Y
Trong đó: S: Hệ số tiết kiệm
6
Y: Tổng sản phẩm quốc dân
Su: Mức đầu tư
a) Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là nguồn đầu tư được lấy từ
ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước được hình thành từ các khoản thu của Nhà nước bao
gồm:
Nguồn thu từ thuế và lệ phí
Nguồn viện trợ từ nước ngoài
Nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước
Nguồn thu từ việc cho thuê đất
Nguồn thu từ việc cho vay nợ
Các khoản chi từ ngân sách Nhà nước chủ yếu chi cho các mục đích sau:
Chi thường xuyên: Đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên của Nhà
nước như cho việc trả lương; chi cho trả nợ đén hạn
Chi bất thường: Khoản chi xẩy ra bất thường mà Chính phủ không thể
lường trước được như chiến tranh, thiên tai
Chi cho các hoạt động đầu tư phát triển
Như vậy, cho đầu tư phát triển được thực hiện sau chi thường xuyên. Do
vậy phải đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách để có thể thực hiện các chi phí
thường xuyên và chi cho hoạt động đầ tư. Đầu tư phát triển từ ngân sách chính
là tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường đầu tư đồng
7
thời nâng cao trình độ phát triển của đất nước, tác động đến nhiều mặt của nền
kinh tế
b) Nguồn vốn dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội
Đây là nguồn vốn đáng kể trong tổng các nguồn vốn có thể dùng cho đầu
tư phát triển. Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệm trong dân tiền
mua công trái, tín phiếu, kho bạc Nhà nước, tiền đang dự trữ trong dân Qua
thực tế điều tra thống kê ở hầu hết các nước trên thế giới người ta cho rằng
nguồn vốn đầu tư trong dân là rất lớn hơn nhiều so với nguồn vốn từ ngân
sách Nhà nước
Theo đánh giá của các nhà thống kê Việt Nam thì lượng vốn trong dân
được huy động cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam còn quá ít. Nhưng lại
được dùng để đầu tư vào các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ hay sản xuất lao động
nhỏ lẻ Đó là những lĩnh vực rủi ro ít vòng quay của vốn nhanh
Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu để thu hút nguồn vốn này phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thông qua các chính sách về
thuế về tiết kiệm và trái phiếu.
c) Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Đây là nguồn vốn được huy động thông qua hệ thống các ngân hàng.
ngân hàng sẽ thực hiện các nghiệp vụ nhận gửi tiền và dùng tiền này cho vay
để thực hiện đầu tư. Đây là nguồn huy động vốn rất lớn. Tuy nhiên đồng thời
với việc vay nguồn vốn này thì nhà đầu tư phải trả một khoản lãi suất tiền vay.
Đây cũng chính là nhân tố thúc đẩy hoạt động đầu tư có hiệu quả. Tuy nhiên
có một thực trạng là số lượng tiền gửi ở các ngân hàng quá lớn trong khi
lượng tiền này chưa được đầu tư hoặc cho vay và các dự án đem lại hiệu quả
cao.
8
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn lớn nhưng để phát huy
hiện quả nguồn vốn này cần có các chính sách thông thoáng trong điều kiện
cho vay quản lý tốt các hoạt động đầu tư để đảm bảo tính hiệu quả cáo, có khả
năng bù đắp các khoản vay tín dụng
d) nguồn vốn tự có của doanh nghiệp
Nguồn vốn này được hình thành từ sự góp vốn của chủ doanh nghiệp để
thành lập và duy trì hoạt động của Công ty. Nguồn vốn này được chia thành 2
phần: Một phần dùng làm quỹ dự trữ, phần còn lại được đưa vào sản xuất kinh
doanh. Lợi nhuận của doanh nghiệp được chia thành 3 1uỹ chính như sau:
+ Quỹ phát triển sản xuất kinh doanh
+ Quỹ dự trữ dự phòng
+ Quỹ phúc lợi khen thưởng
Nguồn bổ sung vào vốn của doanh nghiệp được lấy từ quỹ phát triển sản
xuất kinh doanh. Mặt khác doanh nghiệp cũng có thể đầu tư làm tăng vốn
bằng quỹ kkhấu hao cơ bản hoặc có thể dùng khoản tiền để chi trả cho cổ
đông, khách hàng.
2.3. Ý nghĩa của vấn đề huy động vốn trong nước
Kinh nghiệm trong nước và quốc tế đã chỉ ra rằng các nguồn vốn từ bên
ngoài là rất quan trọng nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển nguồn
vốn tích luỹ trong nước còn thấp như ở nước ta. nhưng nguồn vốn trong nước
đóng vai trò chủ đãouats phát từ quan điểm phát huy nội lực đảm bảo sự bền
vững
Ngoài việc tập trung nguồn vốn bằng tiền mặt chúng ta còn phải khai
thác hữu hiệu các nguồn lực tự nhiên như: Vị trí địa lý, khí hậu, đất đa rừng
9
biển, tài nguyên thiên nhien…. đặc biệt là biết khai thác nguồn lực xã hội như
nguồn lao động dồi dào có trình độ cao, giá rẻ so với các nước trong khu vực
Chính những điều đó chứng tỏ rằng vứi những nguồn lực kinh tế của đất
nước hiện nay chúng ta hoàn toàn có khả năng và điều kiện huy động tập
trung được nguồn vốn trong nước nhằm góp phần đóng vai trò quyết định để
tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên tiềm
năng thì còn nhiều nhưng chúng ta có những giải pháp huy động và tập trung
nguồn vốn như thế nào để tung đồng vốn vào dòng chu chuyển của nền kinh tế
có hiệu quả nhất
III- Kinh nghiệm của một số nước về việc huy động vốn đầu tư trong nước
1- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Khu vực tư nhân, bao gồm hệ cá thể và doanh nghiệp tư nhân có vai trò
ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc. Trước năm 1985, sản
lượng công nghiệp của khu vực tư nhân chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng
sản lượng công nghiệp mặc dù lao động trong khu vực này đã chiếm khoảng
2% tổng lao động phi nông nghiệp năm 1981. Trong giai đoạn 1991 - 1997
vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm khoảng 15 - 17% nhưng việc vay vốn
lại gặp nhiều khó khăn, lượng vốn vay chỉ chiếm khoảng 0,87% tổng dư nợ
của các ngân hàng
Từ những năm 90, Trung Quốc đã tiến hành quá trình tư nhân hoá, giai
đoạn 95 - 98 tư nhân hoá với tốc độ rất nhanh và tất nhiên đã nhanh chóng
nhận được những chỉ trích mạnh mẽ không chỉ từ phía những người có
khuynh hướng ta mà còn từ phía các nhà khoa học. Bên cạnh đó Trung Quốc
còn thực hiện việc mở cửa thị trường cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là
mở cửa khu vực tài chính vì lý do:
10
Thứ nhất, đó và vấn đề đối xử bình đẳng giữa các loại hình sở hữu
Thứ hai, Trung Quốc cần nhiều ngân hàng nhỏ cung cấp vốn cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ, mà phần lớn trong số đó là doanh nghiệp tư nhân
Thứ ba, các ngân hàng tư ngân không chịu sự can thiệp của Chính phủ về
các chính sách cho vay như ngân hàng quốc doanh
2- Khuyến khích đầu tư ở Malaysia
Kể từ khi chấm dứt chủ nghĩa thực dân đến nay đường lối phát triển kinh
tế nói chung và chính sách phát triển công nghiệp nói riêng ở Malaysia đã thay
đổi 3 lần:
- Giai đoạn 1957 - 1970 Malaysia chủ trương chuyển từ chính sách mậu
dịch tự do nhập khẩu hàng phế phẩm, sang bảo hộ kinh tế dân tộc ở mức vừa
phải, đa dạng hoá sản xuất, khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu
- Giai đoạn 1970 - 1980, Malaysia chuyển sang công nghiệp hoá hướng
về xuấtkhẩu - trong đó chú trọng các ngành công nghiệp nhẹ. Biện pháp cơ
bản đó là tiếp tục thu hút mạnh vốn nước ngoài và kích thích hoạt động của tư
bản trong nước
- Từ 1980 đến nay Malaysia chủ trương công nghiệp hoá dựa vào nguồn
tài nguyên trong nước và chú trọng phát triển công nghiệp nặng sử dụng nhiều
vốn và kỹ thuật cao, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào xuất khẩu. Đạo luật thúc
đẩy đầu tư được ban hành năm 1986 thay thế cho luật khuyến khích đầu tư
năm 1968.
Các biện pháp khuyến khích của Malaysia khá đa dạng và phong phú. Đó là
miễn giảm các loại thuế khấu trừ khỏi căn cứ trính thuế các chi phí đầu tư. Khấu
hao nhanh, tái đầu tư… được tính gấp đôi các chi phí liên quan đến bảo hiểm
vốn, đào tạo tay nghề và kiến thức quản lý, chuyển giao đổi mới công nghệ.
11
CHƯƠNG II: NỘI DUNG KẾ HOẠCH VỐN ĐẦU TƯ
TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
I- Nội dung kế hoạch vốn đầu tư
1- Xây dựng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư xã hội
a- Tổng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia vốn đầu tư là
một trong những yếu tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhu cầu
vốn đầu tư với quá trình tăng trưởng kinh tế có thể tính toán theo mô hình
Hassod - Domas, phản ánh mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tỷ
lệ tiết kiện đầu tư và hệ só ICOR của nền kinh tế
S
g =
K
Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân
S: Tỷ lệ tích luỹ
K: Hệ số gia tăng vốn sản lượng
Công thức trên thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) là một đại lượng tỷ
lệ thuận với tỷ lệ tích luỹ trong GDP (s) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR (k).
nếu gọi K là hệ số gia tăng vốn sản lượng đầu ra thì hệ số này được xác định
bằng công thức:
K =
∆K
∆Y
=>
∆Y
=
1
K
x ∆K
Trong đó: ∆K: Mức vốn sản xuất gia tăng
12
Như vậy: Hệ số ICOR sẽ phụ thuộc vào năng suất vốn, phụ thuộc vào tốc
độ trang bị vốn trên lao động và sự gia tăng năng suất lao động trong nền kinh
tế. Nếu năng suất lao động tăng nhanh hơn so với tốc độ trang bị vốn thì hệ số
ICOR sẽ không tăng mà giữ ở mức độ thấp
Dựa vào mô hình Harrod - Domar và mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai
đoạn 2001 - 2005 là 7,5, ước tính nhu cầu vốn đầu tư nguồn trong nước
khoảng 70% thì nguồn nước ngoài khoảng 30%,
b) Xác định khả năng tiết kiệm của nền kinh tế kỳ kế hoạch
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế lỳ k + 1
Y
K+1
= Y=k + ∆Y
KH
Y
KH
= Y
K
+
1
K
(I
K
- σ. K
K
)
G
kh
=
S
K
K
- σ. K
k

S
K
= K (g
kh
+ σ.K)
Trong đó:
Y
k
và YK
+1
: Thu nhập kế hoạch của nền kinh tế năm K và năm K + 1
K
K
: Tổng vốn sản xuất năm kế hoạch
σ: Hệ số khấu hao
K: Hệ số ICOR
IK: Nhu cầu tiết kiệm kỳ gốc của kế hoạch (k+1)
Từ công thức trên ta thấy, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng giai đoạn
2001 - 2005 là 7,5%/năm GDP được tạo ra trong 5 năm vào khoảng 2650 -
13
2660 nghìn tỷ đồng, thì tổng quỹ tiêu dùng dự báo tăng khoảng 5,5%/năm, tỷ
lệ tích luỹ nội địa khoảng 28 - 30% GDP. Trong đó từ khu vực ngân sách
khoảng 6% GDP, từ khu vực dân cư doanh nghiệp khoảng 22 - 24% GDP
c) Phân chia tổng nhu cầu vốn đầu tư theo ngành và địa phương
Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội sẽ được định hướng đầu tư vào một
số ngành và lĩnh vực chủ yếu như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nâng tỷ lệ đầu tư lên đạt
khoảng 13% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
- Đầu tư vào các ngành công nghiệp nhất là các ngành mũi nhọn, để tăng
lực sản xuất và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm hàng hoá, dự kiếm tỷ
trọng chiếm khoảng 44% đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư cho lĩnh vực giai thông vận tải, bưu điện khoảng 15% vốn đầu
tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo y tế,
văn hoá xã hội khoảng 8% vốn đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành khai thác như công nghiệp, cấp thoát nước
khoảng 20%
Nhà nước có thể trực tiếp và chủ động bố trí theo cơ cấu chiến lược bình
quân hằng năm vào khoảng 35 - 39%. Tổng vốn 65 - 70% trong tổng nguồn
vốn để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế vào
khoảng 30 - 35% kết cấu hạ tầng xã hội
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét