Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
triển xã hội chủ nghĩa, Nhà nớc thờng quốc hữu hóa các Ngân hàng t nhân
hoặc cổ phần lớn, hoặc tự xây dựng nên các Ngân hàng. Những Ngân hàng
này thờng đợc Nhà nớc hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do
vậy rất ít khi bị phá sản, tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp các Ngân hàng này
phải thực hiện các chính sách của Nhà nớc có thể bất lợi trong hoạt động
kinh doanh .
2.1.4 Ngân hàng liên doanh:
Ngân hàng này đợc hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, th-
ờng là giữa Ngân hàng trong nớc với Ngân hàng nớc ngoài để tận dụng lợi
thế của nhau.
2.2 Các loại ngân hàng thơng mại chia theo tính chất hoạt động
2.2.1 Ngân hàng chuyên doanh và đa năng
Ngân hàng hoạt động theo chuyên doanh: loại Ngân hàng này chỉ tập
trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng, nh chỉ cho vay đối với xây dựng cơ
bản, hoặc đối với Nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay ( không bảo lãnh hoặc cho
thuê). Tính chuyên môn hóa cao cho phép Ngân hàng có đợc đội ngũ cán bộ
giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, tuy vậy loại Ngân hàng này thờng
gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà Ngân hàng phục vụ
sa sút. Ngân hàng đơn năng có thể là Ngân hàng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp,
trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những Ngân hàng sở hữu của công ty.
Ngân hàng đa năng: Là Ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ Ngân hàng cho
mọi đối tợng, đây là xu hớng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng
thơng mại, Ngân hàng đa năng thờng là Ngân hàng lớn. Tính đa dạng sẽ làm
Ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.
2.2.2 Ngân hàng bán buôn và Ngân hàng bán lẻ:
Ngân hàng bán buôn là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho
các Ngân hàng, các công ty tài chính, cho Nhà nớc, cho doanh nghiệp lớn
Ngân hàng bán buôn thờng là những Ngân hàng lớn hoạt động tại các trung
tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng lớn.
Ngân hàng bán lẻ thờng cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh
nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân các khoản tín dụng nhỏ.
2.3 Các loại Ngân hàng thơng mại chia theo cơ cấu tổ chức:
5
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
Ngân hàng sở hữu công ty và Ngân hàng không sở hữu công ty. Ngân
hàng sở hữu công ty: là Ngân hàng nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho
phép Ngân hàng đợc quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của
công ty. Các Ngân hàng không sở hữu công ty: có thể do vốn nhỏ, hoặc quy
định của luật không cho phép
Ngân hàng đơn nhất đợc hiểu là Ngân hàng không có chi nhánh, tức là
các dịch vụ Ngân hàng chỉ do một cơ sở Ngân hàng cung cấp. Ngân hàng có
chi nhánh thờng là Ngân hàng tơng đối lớn, cung cấp dịch vụ Ngân hàng
thông qua nhiều đơn vị Ngân hàng, việc thành lập chi nhánh thờng bị kiểm
soát chặt chẽ bởi NHNN thông qua các quy định về mức vốn sở hữu, về
chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về sự cần thiết của các dịch vụ Ngân hàng
trong vùng.
3. Chức năng của Ngân hàng thơng mại:
Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, Ngân hàng là một yếu tố
không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó: là trung gian tài chính, tạo
phơng tiện thanh toán, trung gian thanh toán
3.1 Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu t, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là
chi tiêu cho tiêu dùng và đầu t vợt quá thu nhập và vì thế họ là những ngời
cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng d tạm thời trong chi tiêu (tức
là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ
và do vậy họ có tiền để tiết kiệm).
Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với
Ngân hàng, và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ
nhất nếu cả hai cùng có lợi. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính,
mà có thể là quan hệ trực tiếp dới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát,
hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị
nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian Với
quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với
sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu
nhập cho ngời tiết kiệm từ đó mà khuyến khích đợc tiết kiệm, đồng thời giảm
6
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
phí tổn tín dụng cho ngời đầu t và cũng khuyến khích đầu t. Trung gian tài
chính đã tập hợp những ngời tiết kiệm và đầu t, vì vậy giải quyết đợc mâu
thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp.
Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích
thông tin thờng đợc gọi là tình trạng thông tin không cân xứng làm giảm
tính hiệu quả của thị trờng và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức
thấp nhất những sai lệch đó.
3.2 Tạo phơng tiện thanh toán
Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phơng tiện thanh toán
trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển
cao hơn, lợng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng
tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phơng tiện thanh
toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và với những u điểm nhất
định nó đã trở thành phơng tiện thanh toán rộng rãi đợc nhiều ngời chấp
nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn đợc thay thế tiền kim loại làm phơng tiện
lu thông, phơng tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
7
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
Ngày nay giấy nhận nợ đã đợc phát triển dới nhiều hình thức khác nhau
nh: Séc, kỳ phiếu đã giúp cho việc thanh toán đợc diễn ra nhanh gọn và
có hiệu quả hơn.
3.3 Trung gian thanh toán:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán
giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và
tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh
toán nh thanh toán bằng Sec, ủy nhiệm chi, nhờ thu Cung cấp mạng lới
thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng
cần. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua
Ngân hàng trung ơng hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công
nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử
dụng công nghệ đó càng đợc mở rộng. Nhiều hình thức thanh toán đợc
chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa
các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn
thế giới. Với các trung tâm thanh toán quốc tế đợc thiết lập đã làm tăng
hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung
tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
4. Vai trò của Ngân hàng thơng mại:
8
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
Kể từ khi hình thành nên hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng trung -
ơng và Ngân hàng thơng mại, trong đó các Ngân hàng thơng mại thực
hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ và ngày càng đợc mở rộng cả về số
lợng cũng nh chất lợng đã đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vốn và dịch
vụ Ngân hàng cho nền kinh tế. Bên cạnh đó ngành Ngân hàng còn có
đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nớc thông qua việc thực hiện nghĩa vụ
thuế và lợi nhuận cho ngân sách Nhà nớc mỗi năm hàng tỷ đồng, bằng
nguồn quỹ phúc lợi và sự đóng góp của cán bộ, công nhân viên, ngành
Ngân hàng còn tham gia đóng góp nhiều hoạt động xã hội khác nh: xóa
đói giảm nghèo, ủng hộ quỹ từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai Về
mặt quản lý Nhà nớc về tiền tệ cũng không ngừng đợc hoàn thiện, việc
điều hành các chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc đợc áp dụng ngày càng có hiệu quả. Những thay đổi đó đã góp
phần đáng kể vào đẩy lùi và kiểm soát lạm phát phi mã từ mức ba con số
xuống (ổn định) còn dới 10% những năm gần đây, tạo môi trờng vĩ mô
thuận lợi cho tăng trởng kinh tế với tốc độ cao, đa đất nớc vào một thập
kỷ phát triển nhanh và tơng đối ổn định. Hoạt động đối ngoại và hợp tác
quốc tế của hệ thống Ngân hàng cũng không ngừng phát triển, giúp khai
thác đợc nguồn vốn đáng kể từ nớc ngoài cho phát triển đất nớc. Đến nay
quan hệ song phơng về hợp tác Ngân hàng giữa Việt nam với các nớc
không ngừng phát triển và mở rộng, hiện nay hệ thống Ngân hàng Việt
nam đã có quan hệ giao dịch với trên 2000 Ngân hàng và tổ chức tài
chính của hơn 100 quốc gia trên thế giới.
9
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
II. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại:
1. Huy động vốn:
Ban đầu, các Ngân hàng đã dùng vốn tự có để tài trợ cho hoạt động của
mình, song điều đó không kéo dài và hoạt động cho vay tạo nên lợi
nhuận lớn cho Ngân hàng, do vậy các Ngân hàng đều tìm cách mở rộng
thu hút tiền gửi để tập trung đợc những nguồn vốn lớn cho kinh doanh.
Các hình thức huy động vốn ngày càng phong phú, các loại hình tiền gửi
khác nhau đuợc đa ra đã đáp ứng đợc tối đa nhu cầu của khách hàng: tiền
gửi thanh toán, tiền gửi phi giao dịch
Trong đó mỗi loại hình tiền gửi lại đóng những vai trò khác nhau đối với
vốn của Ngân hàng, tiền gửi thanh toán tạo ra sự thuận tiện trong giao dịch
cho các khách hàng, song đối với Ngân hàng đây là nguồn vốn có chi phí
thấp nhất và mặt khác loại tiền gửi này luôn biến động. Tiền gửi phi giao dịch
gồm hai loại chính: tài khoản tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn, loại tiền gửi phi
giao dịch có qui mô lớn, ổn định song phải chịu mức chi phí cao hơn tiền gửi
có thể phát Séc. Trong sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thơng mại, những
thay đổi trong từng loại hình tiền gửi ngày càng giúp cho ngân hàng dễ dàng
tiếp cận hơn với các khoản tiền nhàn rỗi trong dân c hơn.
Ngoài nhận tiền gửi ra, các Ngân hàng thơng mại còn huy động vốn
bằng cách đi vay. Nguồn vốn để vay có thể từ Ngân hàng trung ơng, từ các
ngân hàng thơng mại khác và từ các công ty Đây là những khoản vay có số
lợng lớn, với thời gian nhanh chóng và ngày nay nhiều khi còn tạo ra sự
thuận lợi trong thanh toán. Tuy nhiên, để vay đợc thì các Ngân hàng phải trải
qua nhiều thủ tục khó khăn, chịu mức chi phí cao và bị hạn chế ở mức giới
hạn nhất định.
Nhìn chung, có nhiều phơng thức để các Ngân hàng có thể huy động đ-
ợc vốn, song cần cân nhắc để có một cơ cấu vốn hợp lý để đảm bảo hiệu quả
của từng đồng vốn, không nên lãng phí gây tổn thất cho Ngân hàng. Ngoài
ra, các Ngân hàng cũng nên hớng sang các thị trờng khác nh thị trờng chứng
khoán ( thị trờng tập trung và phi tập trung) để có qui mô lớn hơn cho mình.
10
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
2. Sử dụng vốn:
Đồng tiền đã có trong tay mà không sử dụng sẽ là những đồng tiền chết,
các Ngân hàng thu đợc lợi nhuận chủ yếu bằng cách cho vay. Đây là những
khoản tiền có tính thanh khoản thấp so với các tài khoản khác và xác suất vỡ
nợ cũng cao hơn nhng mặt khác lợi nhuận mà Ngân hàng thơng mại thu đợc
cũng nhiều hơn. Cho vay cũng bao gồm nhiều loại: lớn nhất là các món tiền
cho vay thơng mại, ban đầu chỉ là hình thức chiết khấu thơng phiếu sau đó là
chuyển sang cho các khách hàng vay trực tiếp để họ có vốn mua hàng dự trữ,
xây dựng thêm cơ sở hạ tầng nhằm mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai là cho vay tiêu dùng đã trở thành một loại tăng trởng nhanh nhất
ở các nớc có nền kinh tế phát triển. Các Ngân hàng thơng mại cũng thực hiện
các món cho vay giữa các Ngân hàng thơng mại với nhau nhng thờng là các
món tiền cho vay ngắn hạn đợc thực hiện thông qua thị trờng liên Ngân hàng.
Ngoài hoạt động cho vay ra, các Ngân hàng còn đầu t vốn vào việc mua
chứng khoán (của chính phủ, của chính quyền địa phơng, của doanh nghiệp ),
lợi nhuận của các chứng khoán này thờng ổn định, song với thời gian dài và đòi
hỏi phải có sự cân nhắc tính toán kỹ lỡng để tránh những rủi ro.
3. Là trung gian tài chính
Cung cấp các tiện ích cho khách hàng luôn là mục tiêu của mỗi Ngân
hàng, bắt đầu từ việc giữ hộ tiền ngày nay các dịch vụ đã phát triển vợt bậc cả
về số lợng, chất lợng, đáp ứng tốt hơn cho khách hàng.
3.1 Mua bán ngoại tệ:
Đây là một trong những loại dịch vụ đầu tiên đợc thực hiện, một Ngân
hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hởng phí
dịch vụ. Với một thế giới đang phát triển ngày càng nhiều hơn về ngoại thơng
thì yêu cầu trao đổi, mua bán ngoại tệ tăng đòi hỏi Ngân hàng phải chú trọng
thích hợp. Nhng đây là loại hoạt động có mức độ rủi ro cao và yêu cầu trình
độ chuyên môn cao, do vậy chỉ các Ngân hàng lớn mới có khả năng để thực
hiện.
11
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
3.2 Cung cấp các dịch vụ ủy thác và t vấn:
Do hoạt động trong lĩnhvực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính nên đã có nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ Ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ mình. Dịch vụ ủy thác
phát triển rất cao: Dịch vụ ủy thác vay hộ, ủy thác vay hộ, ủy thác đầu t
Ngân hàng còn sẵn sàng t vấn về đầu t, quản lý tài chính, thành lập, mua bán,
sáp lập doanh nghiệp để nhằm giảm rủi ro cho khách hàng.
3.3. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Dịch vụ của Ngân hàng đợc mở rộng hơn nữa, Ngân hàng cho khách
hàng thuê các máy móc, thiết bị cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua. Đây
là một loại hình kinh doanh mới của Ngân hàng trong đó Ngân hàng mua
thiết bị rồi cho thuê. Do đó cho thuê của Ngân hàng cũng có nhiều điểm
giống với cho vay nên dợc xếp vào tín dụng trung và dài nhng có u điểm là
nếu sau thời hạn thuê khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại với giá u đãi,
nên hiện nay dịch vụ này đang đợc mở rộng.
3.4. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Ngày nay ngoài việc gửi tiền vào ngân hàng, các doanh nhân còn phải
thực hiện việc chi trả cho khách hàng của họ và nếu thanh toán trực tiếp sẽ
gặp nhiều khó khăn và tổn thất nhiều hơn. Hình thức thanh toán qua Ngân
hàng đã mở đầu cho việc thanh toán không dùng tiền mặt. Dịch vụ này có rất
nhiều tiện ích: an toàn, nhanh chóng, chính xác, giảm chi phí đã góp phần
rút ngắn thời gian kinh doanh và càng khuyến kích họ gửi tiền vào Ngân
hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Từ đó hình thành nên một dịch vụ
mới rất quan trọng: tài khoản tiền gửi giao dịch, đây cũng đợc xem là một
trong những bớc quan trọng nhất của công nghệ Ngân hàng. Cùng với sự
bùng nổ của công nghệ thông tin, hình thức thanh toán liên Ngân hàng đã
phát triển lên một bậc cao và thông dụng hơn và cũng có nhiều thể thức thanh
toán mới xuất hiện: ủy nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng thẻ
3.5 Dịch vụ môi giới đầu t chứng khoán
Thị trờng chứmg khoán là hình thức phát triển cao của thị trờng tài
chính, tham gia vào đó đòi hỏi ngời đầu t phải có trình độ chuyên môn và
phải dự tính đợc những rủi ro thờng rất cao của chứng khoán. Đòi hỏi không
12
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
phải ai cũng có và ai cũng đáp ứng đủ, vậy nên các Ngân hàng trong quá
trình phấn đấu để cung cấp đủ các dịch vụ tài chính để thỏa mãn mọi nhu cầu
của khách hàng đã bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán.
3.6 Dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh:
Do Ngân hàng có khả năng thanh toán cho một khách hàng là rất lớn và
lại nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên rất có uy tín trong việc bảo lãnh cho
khách hàng. Gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng ngày càng đa dạng
và phát triển mạnh, Ngân hàng thờng bảo lãnh để khách hàng có thể mua
chịu hàng hóa, thiết bị, phát hành chứng khoán, vay tín dụng
Cũng từ sự uy tín mà từ lâu nay Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách
hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả nếu khách hàng gặp rủi ro. Thờng thì
Ngân hàng hay kết hợp với hình thức tiết kiệm (nhân thọ) để đảm bảo cho
khách hàng các hình thức tiết kiệm bình thờng.
3.7 Quản lý ngân quỹ:
Các cá nhân và doanh nghiệp để đảm bảo mức lợi nhuận và độ an toàn
cao nhất có thể của mình do vậy họ đã nhờ các Ngân hàng giữ hộ tiền và do
có kinh nghiệm lâu năm trong việc quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc
thu ngân sách nên nhiều Ngân hàng đã cung cấp dịch vụ quản lý ngân quỹ.
Trong đó, ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và
tiến hành đầu t phần thặng d tạm thời của các doanh nghiệp vào các chứng
khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn để thu lợi nhuận cho công ty.
3.8 Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Với khả năng tích tụ và tập trung một khối lợng lớn tiền vốn của các
ngân hàng và do nhu cầu chi tiêu lớn và cấp bách, trong khi thu không đủ của
chính phủ nên chính phủ các nớc đều luôn muốn tiếp cận với các khoản cho
vay của ngân hàng. Ngày nay, vì chính phủ có quyền cấp giấy phép hoạt
động và thực hiện kiểm soát Ngân hàng nên khi đó các ngân hàng phải cam
kết thực hiện ở một mức độ nào đó cho những chính sách của chính phủ và
tài trợ cho chính phủ (mua trái phiếu chính phủ với một tỷ lệ nhất định hoặc
cho vay u đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ). Nh vậy, ngày nay vối sự
phát triển của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng ngày càng cung cấp nhiều hơn các dịch vụ
về tài chính đáp ứng cho nhu cầu đang tăng của khách hàng. Nhiều loại hình
13
Trờng ĐHKTQD Hà Nội
Khoa Ngân hàng-Tài chính
mới có chất lợng hơn đợc cung cấp đã giúp ngân hàng tạo sự thuận tiện trong
giao dịch, nâng cao sức cạnh tranh giữa các Ngân hàng và các tổ chức tài
chính khác, tăng thu nhập cho mình.
III. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân
hàng.
1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời trong hoạt động ngân
hàng:
Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lờng khả năng sinh lời của ngân hàng đ-
ợc sử dụng hiện nay gồm : Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu ( ROE), lệ
thu nhập trên tổng tài sản tỷ (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ
lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên
ROE =
ROA =
NIM =
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên =
Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên =
Giống nh tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lờng khả năng
sinh lời đợc sử dụng trong từng trờng hợp khác nhau và phản ánh những ý
nghĩa không khác nhau đáng kể. ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu
quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá
trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Ngợc lại, ROE là
một chỉ tiêu đo lờng tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể
hiện thu nhập mà các cổ đông nhận đợc từ việc đầu t vào ngân hàng .
Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ
thu nhập ngoài lãi cận biên là các thớc đo tính hiệu quả cũng nh khả năng
sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên nhân hàng
trong việc duy trì sự tăng trởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các
khoản cho vay, đầu t và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là
chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trờng tiền tệ tiền lơng
nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lờng mức chênh lệch
giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt đợc thông qua hoạt
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét