b) Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại Điểm a Khoản này thì không
được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại bằng 20% giá đất nông nghiệp
cùng hạng;
4. Bồi thường về đất nông nghiệp mà người sử dụng đất không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất:
Người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, nhưng diện
tích được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 69
Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ;
5. Trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất
bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi
đất. Nếu tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được bồi
thường chi phí đầu tư vào đất bằng 20% giá đất cùng hạng.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường
quốc doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại bằng 20% giá đất
nông nghiệp cùng hạng ;
Điều 11. Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn ; đất
nông nghiệp để lại khó giao theo Nghị định số 64/CP ; đất kênh mương nội đồng
1. Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn ; đất nông nghiệp để lại khó giao theo
Nghị định số 64/CP khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường, nhưng được hỗ trợ bằng 100% giá
đất nông nghiệp cùng hạng. Số tiền hỗ trợ trên được phân chia như sau :
a) Cho người đang nhận thầu, khoán theo các mức như sau :
Mức 20% giá đất nông nghiệp cùng hạng đối với diện tích đất nhận khoán và đã sử dụng từ 03 năm trở
lên ;
Mức 10% giá đất nông nghiệp cùng hạng đối với diện tích đất nhận khoán và đã sử dụng dưới 03 năm;
Mức hỗ trợ trên áp dụng cho cả việc thuê ao, hồ, đầm để nuôi trồng thủy sản. Trường hợp đã được tính bồi
thường hoặc hỗ trợ công đào đắp, nạo vét, cải tạo… thì không được tính hỗ trợ theo quy định trên.
b) Khoản tiền còn lại nộp vào ngân sách của xã, phường, thị trấn và chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng
các công trình phục vụ lợi ích công cộng của xã, phường, thị trấn theo quy định ;
2. Khi Nhà nước thu hồi đất là đường nội đồng, mương nội đồng, nếu không xác định được chi phí đầu tư xây
dựng thì được hỗ trợ theo diện tích đất thu hồi, mức hỗ trợ bằng 100% giá đất nông nghiệp liền kề tại vị trí thu
hồi đất. Số tiền hỗ trợ chuyển vào ngân sách xã, phường, thị trấn quản lý để sử dụng vào mục đích công ích của
xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật ;
Điều 12. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở
1. Người bị thu hồi đất ở không thuộc đối tượng được bồi thường theo quy định của bản Quy định này nếu
không còn nơi ở nào khác thì được xem xét giao đất mới và phải nộp tiền sử dụng đất theo giá quy định
của UBND tỉnh.
2. Đất vườn, ao liền kề với đất ở được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu
dân cư :
a) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ
địa chính hoặc có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 của
Luật Đất đai năm 2003 có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở ( hoặc thổ cư ) thì toàn bộ diện tích đó được xác
định là đất ở . Trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy
tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất
ở được xác định bằng 03 lần hạn mức giao đất ở của UBND tỉnh, nhưng tổng diện tích không vượt quá
diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất
ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất ;
b) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày
01/07/2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các
khoản 1, 2, 5, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất
ở, đất vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó ;
c) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày
01/07/2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các
khoản 1 ,2 ,5, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện
tích đất ở, đất vườn, ao được xác định như sau:
- Diện tích đất ở được xác định theo hạn mức giao đất ở do UBND tỉnh quy định ( hạn mức đất ở đối với
khu vực đô thị là 120m
2
; hạn mức đất ở đối khu vực nông thôn : đồng bằng là 200m
2
, trung du là 300m
2
,
miền núi là 400m
2
). Phần diện tích đất còn lại được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.
- Đối với những vùng nông thôn có tập quán nhiều thế hệ cùng chung sống trong một hộ, thì hạn mức đất ở
được xác định không quá 3 lần hạn mức giao đất ở nông thôn theo quy định của UBND tỉnh, nhưng tổng
diện tích không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
3. Trường hợp Nhà nước thu hồi một phần đất ở của người đang sử dụng để xây dựng theo quy hoạch mà
phần diện tích đất ở còn lại phải thu hồi theo quy định tại Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg ngày 28/02/2005
của Thủ tướng Chính phủ, nếu điều kiện thực tế có thể hợp khối với thửa đất liền kề phù hợp với quy
hoạch xây dựng thì UBND cấp huyện ra thông báo bằng văn bản để chủ sử dụng đất hợp khối trong thời
hạn tối đa là 30 ngày làm việc kể từ ngày ra thông báo. Quy trình hợp khối thực hiện theo quy định của Luật
Đất đai và Luật xây dựng.
Quá thời hạn nêu trên mà chủ sử dụng đất chưa hợp khối thì UBND tỉnh hoặc UBND cấp huyện theo thẩm
quyền ra quyết định thu hồi. UBND cấp huyện có trách nhiệm quản lý chống lấn chiếm để sử dụng theo quy
hoạch và gộp chung vào một phương án bồi thường cùng với phần diện tích đất nằm trong chỉ giới giải
phóng mặt bằng để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định chung. Kinh phí bồi thường, hỗ
trợ để thu hồi phần diện tích đất còn lại ngoài chỉ giới giải phóng mặt bằng đối với trường hợp trên do
người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả và được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
theo quy định.
Điều 13. Bồi thường thiệt hại đối với đất phi nông nghiệp
1. Người sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc
đã nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi
thường thiệt hại về đất, nhưng được bồi thường thiệt hại chi phí đã đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại
Điều 9 của bản quy định này, nếu tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách nhà nước.
2. Người sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thời hạn đã nộp tiền sử dụng đất hoặc
được nhà nước cho thuê đất và đã nộp tiền thuê đất một lần , được Nhà nước cho thuê đất đã trả tiền thuê
đất cho nhiều năm mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền thuê đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước, thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường thiệt hại về đất nhưng được bồi thường chi phí
đã đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại Điều 9 của bản quy định này ;
3. Người sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất với thời hạn lâu dài và đã nộp tiền sử dụng
đất nhưng tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, khi Nhà nước thu hồi đất
thì được bồi thường về đất.
Tổ chức sử dụng đất phi nông nghiệp bị thu hồi đất theo quy định tại khoản 1,2,3 Điều này được xem xét
giao hoặc cho thuê đất mới. Việc giao đất, cho thuê đất mới phải phù hợp với quy hoạch được duyệt và
phù hợp với dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, cá nhân có nguồn gốc là đất ở,
thì được bồi thường theo giá đất ở.
Điều 14. Bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc
thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất
Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng
đất thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định sau:
1. Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo
diện tích đo đạc thực tế : Được hỗ trợ 50% diện tích chênh lệch thiếu giữa diện tích đo đạc thực tế so với
diện tích được ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, mức hỗ trợ bằng đơn giá bồi thường, hỗ trợ của loại
đất bị thu hồi.
2. Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc
trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện
tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với những người sử dụng đất
liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường, hỗ trợ theo diện tích đo đạc thực tế.
3. Không bồi thường về đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử
dụng đất, nếu diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.
Điều 15. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo
vệ an toàn
Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước không thu hồi đất được
quy định cụ thể như sau:
1. Trường hợp làm thay đổi mục đích sử dụng đất:
a) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, từ đất ở sang
đất nông nghiệp thì tiền bồi thường bằng (=) chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất phi nông nghiệp (không
phải là đất ở), giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp nhân (x) với diện tích bị thay đổi mục đích sử dụng;
b) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp
thì tiền bồi thường bằng (=) chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) với giá đất nông
nghiệp nhân (x) với diện tích bị thay đổi mục đích sử dụng.
2. Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành
lang bảo vệ an toàn của công trình) nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng thì được bồi thường bằng tiền
theo mức thiệt hại thực tế. Mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
3. Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích đất sử dụng có
nhà ở, công trình của một chủ sử dụng đất thì phần diện tích đất còn lại cũng được bồi thường theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 16. Bồi thường đất do Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý
Đối với quỹ đất UBND tỉnh giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý, khi Nhà nước thu hồi lại để giao
cho các dự án khác đầu tư mà vốn đầu tư không phải nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp thì chủ đầu
tư mới phải bồi thường, hỗ trợ theo quy định. Đơn giá lập phương án bồi thường, hỗ trợ được áp dụng tại
thời điểm có quyết định thu hồi đất để giao cho dự án mới.
Mục 2. BỒI THƯỜNG TÀI SẢN
Điều 17. Nguyên tắc bồi thường về tài sản
1. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại thì được bồi thường.
2. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất đó thuộc đối tượng không được bồi
thường thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản.
3. Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
4. Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 01/7/2004 mà tại thời điểm xây dựng đã
trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì
không được bồi thường.
5. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất đã được công bố thì không được
bồi thường.
6. Hệ thống máy móc, dây truyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được, thì chỉ được bồi thường các
chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.
Điều 18. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng giá trị xây
dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Đơn giá xây dựng mới của nhà, công
trình được ban hành kèm theo Quyết định này (Bảng giá số 1A)
2. Đối với nhà, công trình xây dựng và các tài sản vật kiến trúc khác không thuộc đối tượng trên thì được
bồi thường theo mức bồi thường tại Bảng giá số 1B kèm theo quyết định này;
3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì
bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình. Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần,
nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và
chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình
trước khi bị phá dỡ.
4. Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại các khoản:
1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11, Điều 8 của Nghị định 197/2004/NĐ-CP và các Điều: 44, 45 của Nghị định
84/2007/NĐ-CP nhưng tại thời điểm xây dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có
thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang
bảo vệ công trình thì được hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều này.
5. Nhà, công trình khác được xây dựng trước ngày 01/7/2004 trên đất không đủ điều kiện được bồi thường
theo quy định tại các khoản: 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11, Điều 8 của Nghị định 197/2004/NĐ-CP và các Điều:
44, 45 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được
công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi
thường. Trường hợp đặc biệt, UBND tỉnh sẽ xem xét hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể.
6. Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại các khoản:
1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11, Điều 8 của Nghị định 197/2004/NĐ-CP và các Điều: 44, 45 của Nghị định
84/2007/NĐ-CP mà khi xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo không được phép
xây dựng thì không được bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái phép đó buộc
phải tự tháo dỡ và chịu chi phí phá dỡ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền phá dỡ.
7. Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có
tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
8. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 4,6,7 và 10 Điều 38 của
Luật Đất đai thì không được bồi thường ;
9. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2,3,5,8,9,11 và 12 Điều
38 của Luật Đất đai thì việc xử ly tài sản theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
Điều 19. Bồi thường về di chuyển mồ mả
Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền bồi thường được tính cho chi phí về đất đai, đào, bốc, di chuyển,
xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp. Mức bồi thường cụ thể theo Bảng giá số 3
kèm theo Quyết định này. Trường hợp đặc biệt do UBND tỉnh quyết định.
Điều 20. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi.
1. Mức bồi thường đối với cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đó. Giá trị sản
lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong ba năm trước liền kề của cây trồng
chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất.
2. Mức bồi thường đối với cây lâu năm được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây (không bao hàm giá trị
quyền sử dụng đất) theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất. Mức bồi thường được tính theo bảng
giá số 2A kèm theo Quyết định này. Một số trường hợp cụ thể quy định như sau:
a) Đối với các loại cây ăn quả, cây lấy gỗ: tính theo mật độ cây trồng chính trên hecta (cây/ha) theo bảng về
mật độ cây trồng kèm theo;
b) Đối với những cây trồng xen ghép trước khi công bố chủ trương quy hoạch và thu hồi đất, thì được xem
xét hỗ trợ; mức hỗ trợ không quá 50% theo giá quy định của từng loại cây trồng;
c) Đối với cây trồng xen ghép sau khi đã công bố quy hoạch và thu hồi đất thì không được bồi thường, hỗ
trợ;
d) Đối với cây trồng ươm (đang ở thời kỳ ươm giống): chỉ hỗ trợ di chuyển;
đ) Đối với cây trồng xen canh ngắn ngày theo mùa vụ thì tính bồi thường theo thực tế.
3. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia
đình trồng, quản lý, chăm sóc, bảo quản thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi
thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo quản theo quy định của pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng.
4. Đối với vật nuôi trong nuôi trồng thuỷ sản được bồi thường theo quy định sau:
a) Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không được bồi thường.
b) Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch được thì được bồi thường thiệt
hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di
chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra.
Điều 21. Xử lý tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước
Tổ chức bị Nhà nước thu hồi đất, bị thiệt hại về tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng, phải di dời đến
cơ sở mới thì được sử dụng tiền bồi thường tài sản để đầu tư tại cơ sở mới theo dự án đầu tư được cấp
có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 22. Bồi thường cho người lao động do ngừng việc
Việc bồi thường cho người lao động do ngừng việc được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Nghị định
197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
Mục 3. CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
Điều 23. Hỗ trợ di chuyển
1. Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong phạm vi 3km được hỗ trợ
4.000.000đ/hộ; di chuyển trên 3km được hỗ trợ 5.000.000đ/hộ.
2. Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển cơ sở,
được hỗ trợ toàn bộ chi phí thực tế về di chuyển, tháo dỡ và lắp đặt.
3. Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác, trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới, được bố trí vào nhà
ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở trong 06 tháng, mỗi tháng 1.000.000 đ/hộ.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi Nhà nước thu hồi
đất phải dỡ nhà ở, phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển bằng mức quy định tại khoản 1
Điều này.
5. Trường hợp tái định cư tại chỗ (không phải di chuyển sang nơi ở khác), nhưng phải tháo dỡ toàn bộ nhà
ở chính thì được hỗ trợ tiền thuê nhà ở hoặc làm nhà tạm trong 06 tháng, mỗi tháng 1.000.000đ/hộ.
Điều 24. Quy định về tái định cư
1. Đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và
khả năng chi trả của người được tái định cư.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa
bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái
định cư).
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo
quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có
đất bị thu hồi.
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có
hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị
trấn nơi có đất bị thu hồi.
d) Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng chung sống đủ điều kiện tách
hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì Ủy ban nhân dân
cấp huyện căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương để xem xét bố trí tái định cư cho phù hợp.
3. Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất
tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó. Trường hợp không nhận đất ở tại khu tái định cư
thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó.
Diện tích một suất tái định cư tối thiểu quy định là 50m
2
.
4. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở ( không nhận đất ở
tái định cư ) thì được hỗ trợ một khoản tiền ( trừ trường hợp đã nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định
tại khoản 1 Điều này ) như sau:
a) Các xã, phường thuộc thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên là: 50 triệu đồng/ hộ ;
b) Vùng còn lại là: 40 triệu đồng/ hộ ;
Khi có biến động về giá thì UBND tỉnh sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ cho phù hợp.
5. Việc lập và thực hiện dự án tái định cư, bố trí tái định cư, điều kiện khu tái định cư và quyền, nghĩa vụ
của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thực hiện theo Điều 34, 35, 36, 37, 38 của Nghị định
197/2004/NĐ-CP; khoản 5, Điều 4 Nghị định 17/2006/NĐ-CP và khoản 2 Điều 58 Nghị định 84/2007/NĐ-CP
của Chính phủ.
Điều 25. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
1. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định 64/CP
ngày 27/9/1993, Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999, Nghị định
163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ khi Nhà
nước thu hồi thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định sau:
a) Đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản: 15.000đ/m
2
;
b) Đất rừng trồng sản xuất: 1.500đ/m
2
;
Diện tích đất rừng sản xuất được áp dụng để hỗ trợ tại điểm b khoản này không vượt quá 30ha hạn mức
giao đất quy định tại khoản 3 Điều 70 của Luật Đất đai năm 2003.
2. Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất mà
bị ngừng sản xuất kinh doanh thì được hỗ trợ 20% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình
quân của 3 năm liền kề trước đó được cơ quan thuế xác nhận trong biểu thu thuế đã nộp thuế của 3 năm
đó.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản ( không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ) của các nông, lâm trường
quốc doanh khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường
quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang
trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông, lâm
nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông, lâm nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ như
sau:
- Hỗ trợ bằng 30% giá đất trồng cây hàng năm; hỗ trợ bằng 20% giá đất trồng cây lâu năm và đất lâm
nghiệp cho những hộ đã nhận khoán và sử dụng đất từ 03 năm trở lên;
- Hỗ trợ bằng 10% giá đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp cho những hộ đã
nhận khoán và sử dụng đất dưới 03 năm;
Diện tích đất hỗ trợ tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông
nghiệp tại địa phương.
Điều 26. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất vườn ao không được công nhận là đất ở
Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng
không được công nhận là đất ở ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ ; đất vườn, ao trong
cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc bồi thường theo giá
đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở của thửa đất đó. Diện tích được
hỗ trợ không quá 03 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương.
Điều 27. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất được Nhà nước giao theo Nghị định số 64/CP
ngày 27 tháng 9 năm 1993, Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994, Nghị định số 85/1999/NĐ-CP
ngày 28 tháng 8 năm 1999, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 và Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ mà bị thu hồi nhưng không thuộc trường hợp
quy định tại Điều 26 của Bản quy định này thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền. Mức
hỗ trợ bằng 2,0 lần giá đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nhưng diện tích được
hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.
Điều 28. Hỗ trợ khác
1. Hộ gia đình, cá nhân nhận tiền bồi thường và giao đất cho các dự án theo đúng thời gian và kế hoạch thì
được hỗ trợ bằng hình thức thưởng giải phóng nhanh mặt bằng nhanh theo qui định dưới đây:
a) Mức thưởng 2.000đ/m
2
đối với tất cả các loại đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi
trồng thuỷ sản, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp trồng rừng sản xuất đã giao cho các hộ gia đình 50
năm;
b) Mức thưởng 1.000đ/m
2
đối với đất nông nghiệp còn lại gồm: Đất rừng sản xuất, đất trồng cây lâu năm
thuộc các nông lâm trường quản lý có hợp đồng canh tác sản xuất đối với các hộ gia đình;
c) Mức thưởng 20.000 đ/m
2
đối với đất ở;
d) Mức thưởng 2.000.000đ/hộ đối với các hộ phải di chuyển nhà ở.
Tất cả mức thưởng trên chỉ áp dụng đối với những hộ thực hiện giao trả đất đúng thời gian, đúng kế hoạch.
2. Gia đình chính sách, hộ gia đình đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước theo xác nhận của
Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội khi phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi nhà ở, đất ở được hỗ trợ
như sau:
a) Người hoạt động Cách mạng trước năm 1945; Anh hùng lực lượng vũ trang; Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
Anh hùng lao động; thân nhân của liệt sỹ đang hưởng tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng; thương binh, bệnh
binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên được
hỗ trợ 7.000.000đ/chủ hộ sử dụng nhà, đất;
b) Thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị mất sức lao
động từ 61% đến dưới 81% được hỗ trợ 6.000.000đ/chủ hộ sử dụng nhà, đất;
c) Thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị mất sức lao
động từ 41% đến dưới 61% được hỗ trợ 5.000.000đ/chủ hộ sử dụng nhà, đất;
d) Gia đình Liệt sĩ, người có công giúp đỡ Cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng; thương binh, bệnh
binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị mất sức lao động từ 21% đến dưới
41% được hỗ trợ 4.000.000đ/chủ hộ sử dụng nhà, đất;
đ) Hộ gia đình có người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội khác của Nhà nước được hỗ trợ
3.000.000đ/chủ hộ sử dụng nhà, đất;
Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều người thuộc diện được hưởng một trong các mức hỗ trợ trên thì hộ
gia đình chỉ được tính hỗ trợ một lần theo mức cao nhất.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 29. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
1. Căn cứ vào tình hình thực tế của từng dự án, UBND tỉnh giao việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thành, thị (sau đây gọi chung là Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện) hoặc giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất (gọi chung là Tổ chức
làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng).
2. Thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện do lãnh đạo UBND cấp huyện làm
Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm:
a) Đại diện cơ quan tài chính ;
b) Đại diện cơ quan Tài nguyên & Môi trường ;
c) Đại diện cơ quan Kế hoạch và Đầu tư ;
d) Chủ đầu tư ;
đ) Đại diện UBND cấp xã có đất bị thu hồi ;
e) Đại diện của những hộ gia đình bị thu hồi đất từ một đến hai người ;
g) Một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định cho phù hợp với thực tế ở địa phương ;
3. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giúp UBND cùng cấp lập và tổ chức thực hiện phương án bồi
thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư; Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số.
Trường hợp biểu quyết ngang nhau thì theo phía có ý kiến của Chủ tịch hội đồng.
4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý của
số liệu kiểm kê, tính pháp lý của đất đai, tài sản được bồi thường, hỗ trợ hoặc không được bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư.
5. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được thuê doanh nghiệp, tổ chức có chức năng
thực hiện các dịch vụ về bồi thường, giải phóng mặt bằng như sau:
a) Các dịch vụ về bồi thường, giải phóng mặt bằng gồm có:
- Đo đạc, lập bản đồ hiện trạng; trích lục bản đồ, trích sao hồ sơ địa chính (trường hợp chưa có bản đồ địa
chính hoặc bản đồ địa chính đã bị biến động không còn phù hợp với hiện trạng thì trích đo, lập hồ sơ thửa
đất);
- Lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
- Lập và thực hiện dự án xây dựng khu tái định cư;
- Dịch vụ khác về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Điều 30. Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái đinh cư
1. Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một nội dung của dự án đầu tư do nhà đầu tư
lập và được phê duyệt cùng với phê duyệt dự án đầu tư; trường hợp dự án đầu tư không phải trình cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì Ủy ban nhân
dân cấp huyện nơi có đất có trách nhiệm xem xét, chấp thuận về phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng giúp nhà đầu tư lập phương án tổng
thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
2. Nội dung phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm:
a) Diện tích các loại đất dự kiến thu hồi;
b) Tổng số người sử dụng đất trong khu vực dự kiến thu hồi đất;
c) Dự kiến số tiền bồi thường, hỗ trợ;
d) Việc bố trí tái định cư (dự kiến về nhu cầu, địa điểm, hình thức tái định cư);
đ) Dự kiến thời gian và kế hoạch di chuyển, bàn giao mặt bằng.
Điều 31. Trình tự, thủ tục lập và hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc
Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập phương án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-
CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần và theo quy định sau đây:
1. Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm:
a) Tên, địa chỉ của người bị thu hồi đất;
b) Diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối lượng, tỷ lệ phần trăm chất lượng
còn lại của tài sản bị thiệt hại;
c) Các căn cứ tính toán số tiền bồi thường, hỗ trợ như giá đất tính bồi thường, giá nhà, công trình tính bồi
thường, số nhân khẩu, số lao động trong độ tuổi, số lượng người được hưởng trợ cấp xã hội;
d) Số tiền bồi thường, hỗ trợ;
đ) Việc bố trí tái định cư;
e) Việc di dời các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn giáo, của cộng đồng dân cư;
g) Việc di dời mồ mả.
2. Lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại
các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi để người bị thu hồi đất và những người có liên quan
tham gia ý kiến;
b) Việc niêm yết phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện những người có đất bị thu hồi;
c) Thời gian niêm yết và tiếp nhận ý kiến đóng góp ít nhất là hai mươi (20) ngày, kể từ ngày đưa ra niêm
yết.
3. Hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Hết thời hạn niêm yết và tiếp nhận ý kiến, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có
trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, nêu rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không
đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; hoàn chỉnh và gửi
phương án đã hoàn chỉnh kèm theo bản tổng hợp ý kiến đóng góp đến cơ quan tài nguyên và môi trường
để thẩm định;
b) Trường hợp còn nhiều ý kiến không tán thành phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì Tổ chức
làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cần giải thích rõ hoặc xem xét, điều chỉnh trước khi chuyển
cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định.
Điều 32. Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Việc thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện theo qui định như
sau:
1. Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư đối với các trường hợp:
a) Phương án do Trung tâm phát triển quỹ đất (thuộc Sở Tài nguyên & Môi trường) thực hiện;
b) Các dự án thu hồi đất có liên quan từ hai huyện, thị xã, thành phố trở lên;
2. Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định và trình UBND cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đối với các trường hợp còn lại.
3. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ( Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các địa
phương đã thành lập ), Trung tâm phát triển quỹ đất gửi 01 bộ hồ sơ đến cơ quan có trách nhiệm thẩm
định quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này để tổ chức thẩm định.
a) Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm:
- Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã hoàn chỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Nghị
định 69/2009/NĐ-CP;
- Bản tổng hợp ý kiến đóng góp của người có đất bị thu hồi.
b) Nội dung thẩm định gồm:
- Tên, địa chỉ của người bị thu hồi đất;
- Diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối lượng, tỷ lệ phần trăm chất lượng
còn lại của tài sản bị thiệt hại;
- Các căn cứ tính toán số tiền bồi thường, hỗ trợ như giá đất tính bồi thường, giá nhà, công trình tính bồi
thường, số nhân khẩu, số lao động trong độ tuổi, số lượng người được hưởng trợ cấp xã hội;
- Số tiền bồi thường, hỗ trợ;
- Việc bố trí tái định cư;
- Việc di dời các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn giáo, của cộng đồng dân cư;
- Việc di dời mồ mả.
Điều 33. Công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ và bố trí tái định cư
1.Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp
với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường
tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố
trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao
đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
2. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chi trả bồi thường,
hỗ trợ, bố trí tái định cư.
Điều 34. Quy định về bàn giao đất đã bị thu hồi
1. Khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, người có đất bị thu hồi có trách nhiệm nộp (bản gốc)
các giấy tờ về quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) cho Tổ chức
làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để chuyển cho cơ quan tài nguyên và môi trường làm thủ
tục thu hồi, chỉnh lý hoặc cấp giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất không bị thu hồi.
2. Trong thời hạn không quá hai mươi (20) ngày, kể từ ngày được thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ
thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Việc bàn giao đất giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người có đất bị thu hồi
phải lập thành biên bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi. Trường hợp
người được nhận bồi thường ủy quyền cho người khác nhận tiền bồi thường thì phải có giấy ủy quyền theo
quy định của pháp luật.
Trường hợp việc bồi thường được thực hiện theo tiến độ thì chủ đầu tư được nhận bàn giao phần diện tích
mặt bằng đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ để triển khai dự án.
3. Trường hợp chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất đã thỏa thuận bằng văn bản thống nhất về
phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt
bằng thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất mà
không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.
Điều 35. Chi phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Mức chi phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tối đa cho một dự án:
a) Dự án có tổng mức bồi thường dưới 5 tỷ đồng và các dự án đường giao thông, đường điện, đường
nước được dự toán chi phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng 2% tổng mức bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư;
b) Dự án có tổng mức bồi thường từ 5 tỷ đồng trở lên được dự toán chi phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư bằng 1,5% tổng mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
2. Đối với các khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
như: công tác phí, hội nghị, hội họp, kiểm kê, chi phí làm thêm giờ, xác định đất đai tài sản thiệt hại… thì
được thực hiện theo quy định hiện hành.
3. Đối với các khoản chi Nhà nước chưa có tiêu chuẩn định mức, như: Điều tra khảo sát thực tế, lập
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì tuỳ yêu cầu công việc thực tế phải thực hiện và đặc điểm
của từng dự án để lập dự toán.
4. Dự toán chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp
huyện lập, trình thì Chủ tịch UBND huyện, thành, thị phê duyệt. Dự toán do Tổ chức phát triển quỹ đất lập,
trình thì do Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét