Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề tài : Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI của EU, Mỹ, Nhật vào Việt Nam pptx

Chương I ĐẶC ĐIỂM VÀ VỊ TRÍ CỦA EU, MỸ, NHẬT BẢN
TRONG LĨNH VỰC FDI
I. KHÁI NIỆM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng phát triển rất mạnh mẽ và trở thành
một trong những khuynh hướng chủ yếu của quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do tính hiệu quả mà phương thức
kinh doanh đặc biệt này mang lại và do sự phát triển ngày càng tăng các mối
quan hệ giữa các quốc gia, kể cả giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác
nhau.
Do yêu cầu quản lý vĩ mô và nâng cao hiệu quả đầu tư, mỗi quốc gia đều có
văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh quan hệ Đầu tư nước ngoài, trong đó có
đề cập đến khái niệm của lĩnh vực kinh tế này.
Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam (Ban hành năm 1987, điều chỉnh năm
1990, 1992 và 2000) đã định nghĩa như sau: "Đầu tư nước ngoài là việc các tổ
chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước
ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào khác được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh,
xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo qui định của Luật này". (Ở đây cần lưu ý
rằng Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam chỉ trực tiếp điều chỉnh quan hệ
kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài nên định nghĩa trên cũng chính là định
nghĩa của Đầu tư trực tiếp nước ngoài).
Từ đó, chúng ta có thể hiểu Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư
(pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hay bất kỳ hình thái giá trị nào vào nước
tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
nhằm thu lợi nhuận hoặc đem lại các hiệu quả xã hội.
2. Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Đối với nước chủ đầu tư
2.1.1. Các tác động tích cực
Đối với nước đầu tư, Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở
trong nước. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Việc
đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước
giảm hay năng suất giảm. Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra
nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng.
Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập
quốc nội từ lao động thành tư bản.
Trong quá trình đầu tư ra nước ngoài, Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích
việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc. Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước
đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ
cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ
tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường
thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện
tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác
của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu
ngang nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác.
Nếu sử dụng giá lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về
trong nước để sản xuất thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà
trước đây họ phải nhập khẩu.
Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho
cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị
máy móc, nguyên vật liệu cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về
nước đã đem ngoại tệ trở lại cho nước đầu tư. Các chuyên gia ước tính thời
gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm.
2.1.2. Các tác động tiêu cực
Như trên đã phân tích thì Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế của nước đi đầu tư nhưng đó là tác động tích cực trong dài
hạn. Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp
này lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế.
Nguyên nhân là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của
nước đầu tư tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán
ngân sách. Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư
đầy đủ.
Một yếu tố ảnh hưởng tiêu cực khác nữa là việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ
tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư. Hãy xem xét một trong những nguyên nhân
mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm sử dụng lao động không lành
nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này tất yếu làm tăng thất
nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu tư. Thêm vào
đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập
khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng
làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê
mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại
dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước
chủ nhà.
Tóm lại, có một số tác động không tốt tới cán cân thanh toán quốc tế hay làm
gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của việc các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài song
không vì thế mà khuynh hướng này có chiều hướng bị giảm sút. Để đáp ứng
yêu cầu thực tế và vì những lợi ích to lớn và lâu dài mà hình thức đầu tư này
mang lại, nhất định Đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn sẽ ngày càng được phát
triển mạnh mẽ.
2.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
2.2.1 Tác động tích cực
Đối với các nước đang phát triển, tác dụng chủ yếu của Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là làm tăng thêm tích luỹ và bù đắp vào lỗ hổng ngoại tệ. Do thu nhập
của các nước này còn thấp nên tích luỹ thấp trong khi tỷ lệ tư bản đầu ra lại
cao. Muốn đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhất định (là tỷ lệ tích luỹ trừ đi
tỷ lệ tư bản đầu ra) thì một trong những biện pháp là phải hạ tỷ lệ tư bản đầu
ra. Biện pháp này yêu cầu phải nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý và Đầu
tư trực tiếp nước ngoài có thể đáp ứng được đòi hỏi này. Bên cạnh tỷ lệ tích
luỹ thấp, các nước đang phát triển còn thiếu nhiều ngoại tệ. Do vậy, không thể
đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu đầu tư thiết bị, Đầu tư trực tiếp nước ngoài
cũng lấp được lỗ hổng này.
Ngoài ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể kéo theo đầu tư trong nước.
Khi nước ngoài đầu tư vào các công trình hạ tầng cơ sở, các ngành công
nghiệp sẽ thúc đẩy nước sở tại đầu tư. Như vậy, nó cũng làm tăng thêm việc
làm cho các nước này.
Lợi ích quan trọng mà Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại là công nghệ kỹ
thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật
trong các nước đang phát triển, góp phần làm tăng năng suất các yếu tố sản
xuất, khai thác và sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên, thay
đổi kết cấu sản phẩm, phát triển các ngành nghề mới, đặc biệt là các ngành có
hàm lượng công nghệ cao. Nó có tác động lớn lao đối với quá trình công
nghiệp hoá và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.
2.2.2. Tác động tiêu cực
Như chúng ta đã phân tích thì không thể phủ nhận được ảnh hưởng tích cực
đối với thu chi quốc tế của nước sở tại mà Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem
lại, nhưng xét về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn
đến đầu tư và hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng
ngoại tệ đối với các nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn.
Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cũng phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng
mong đợi của chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những năm gần
đây, do sự phát triển của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở
nên có hiệu suất thấp. Thực tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít
sử dụng lao động tại chỗ (trừ những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc
doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để
hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản
nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược với chiến lược việc
làm của các nước đang phát triển.
Mặt khác nữa, trong việc thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước sở tại
còn phải chịu nhiều thiệt thòi. Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của
các nước công nghiệp phát triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia
này song chủ yếu lại bị các nước đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ
thuộc vào đối tượng ngành hàng sản xuất mà nước đầu tư quyết định kinh
doanh.
Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên
tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây ra ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức
Tóm lại, trong việc thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước sở tại vừa được
lợi lại vừa bị thiệt hại. Giải quyết vấn đề này hài hoà như thế nào hoàn toàn
phụ thuộc vào chính sách, sách lược và chiến lược thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Nếu nước sở tại xây dựng được một kế hoạch đầu tư cụ thể và
khoa học thì việc thu hút cũng như sử dụng nguồn vốn đầu tư này sẽ mang lại
hiệu quả rất cao.
2.3. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế xã hội Việt
Nam.
* Đầu tư nước ngoài đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường
quốc tế, nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam. Không tính dầu khí, kim
ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 24% tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH - HĐH. Theo thống kê từ cơ quan quản lý đầu tư nước
ngoài với đầu tư nước ngoài tập trung 50,5 % vào lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng, còn lại 45,5% vào dịch vụ. Đây là nhân tố quan trọng tạo nên sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ.
* Thông qua đầu tư nước ngoài đã hình thành các KCN và KCX
* Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp phần giải quyết việc làm cho
gần 40 vạn lao động trực tiếp, không kể khoảng 1 triệu lao động gián tiếp
khác 9 theo cách tính của WB, cứ 1 lao động trực tiếp tạo ra việc làm cho
khoảng 2-3 lao động gián tiếp trong xây dựng và cung ứng các loại dịch vụ
khác).
* Đầu tư nước ngoài đã góp phần phá thế bao vây cấm vận của một số thế lực
phản động quốc tế, nâng cao quan hệ hợp tác quốc tế, tăng cường thế và lực
của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực.
* Đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các địa phương có điều kiện cơ sở
hạ tầng thuận lợi hơn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Lai đã góp
phần làm cho trọng điểm kinh tế có tác động tăng trưởng cao, tạo động lực lôi
kéo cho các vùng xung quanh phát triển theo.
* Đầu tư nước ngoài đã phóp phần chuyển giao công nghệ sang Việt Nam
những công hiện đại và tương đối hiện đại so với khu vực và thế giới. Đây là
yếu tố rất quan trọng cho ta thực hiện CNH - HĐH đất nước.
II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA EU, MỸ, NHẬT TRONG VẤN
ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ THẾ GIỚI
1. Một số đặc điểm nổi bật của EU trong lĩnh vực FDI với Thế giới
Khu vực EU có một vài đặc điểm quan trọng, trong lĩnh vực đầu tư EU cũng
là một trong ba nước trọng điểm trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài. Vì vậy,
không ngừng các nước và vùng lãnh thổ nghiên cưú EU để mở rộng quan hệ,
để điều kiện thận lợi cho dòng FDI chẩy vào.
Đặc điểm nổi bật nhất của EU đó là sự liên kết kinh tế xã hội chặt chẽ. Đây là
khu vực duy nhất thế giới cho đến nay sử dụng đồng tiền chung Châu Âu
trong nội bộ khối, chính sách tiền tệ cũng được sử dụng chung chẳng hạn: vấn
đề về lãi suất, vấn đề về tỷ giái hối đoái điều này tạo điều kiện thuận lợi cho
nhà đầu tư tham gia đầu tư từ ngoài khối đầu tư vầo khu vực và thậm chí ngay
cả các nhà đầu tư tại nội bộ khối cũng dễ dàng đầu tư trong khối. Bởi vì, các
nhà đầu tư dễ dàng chuyển tiền của mình sang các nước trong nội bộ khối do
không có tỷ giá hối đoái giữa các nước.
Khu vực EU có sức mạnh kinh tế lớn. Nếu GDP của EU cộng thêm NA UY,
THUỴ SĨ và ICELAND vào khoảng 8.000 tỷ $ gấp đôi khu vực ASEAN
cộng thêm Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Trong khi dân số của
khu vực này nhỏ hơn rất nhiều so với khu vực Asean và Trung quốc. Điều đó
đã chứng tỏ khu vực EU có tiềm lực kinh tế mạnh như tthế nào. Tiềm lực kinh
tế mạnh cộng thêm sự năng động của khu vực này đã đóng góp rất lớn cho sự
tăng trưởng kinh tế của thế giới. Hiện nay, Việt Nam thu hút FDI của EU còn
rất hạn chế so với tiềm năng của hai khu vực, do đó chúng ta cần phải tăng
cường hơn nữa trong việc thu hút FDI của EU.
Công nghệ cao của thế giới được tập trung ở EU. Đây là khu vực công nghệ
nguồn của thế giới. Điều đó đặt ra cho phía Việt Nam là: để thu hút FDI của
EU thì ta cần phải có một đội ngũ trình độ kỹ thuật cao mới có đủ khả năng
để tiếp cận công nghệ hiện đại của khu vực này.
Sự phát triển cao về kinh tế xã hội , trình độ văn hoá, đầu tư rất lớn trong nội
bôi khối đó là những đặc điểm kinh tế xã hội nổi bật chung của EU. Ngoài
ra ta còn thấy đặc điển khinh tế riêng của từng nước ví dụ: đặc điểm kinh tế
Đức, nước có tiềm lực kinh tế mạnh thứ ba thế giới mà chủ yếu phát triển
mạnh về các doanh nghiệp vừa và nhỏ so với quy mô của thế giới. Đây là điều
rất đáng chú ý của kinh tế Đức, nó đặt ra cho Việt Nam là: trong quá trình thu
hút FDI của Đức ta phải có các dự án có quy mô không quá lớn không phù
hợp với yêu cầu đặt ra đối với các nhà đầu tư. Có lẽ đây là khó khăn cho ta
trong việc thu hút FDI từ Đức bởi các nhà đầu tư có truyền thống đầu tư vào
các dự án có quy mô nhỏ thì rất hạn chế đầu tư sang các khu vực khác cách
quá xa.
EU bao gồm những nước có trình độ phát triển tương đối đồng đều nhau vào
loại cao nhất Thế giới. Vì vậy, cùng với xu hướng chung của Thế giới là đầu
tư phát triển giữa các quốc gia này chiếm trên 3/4 toàn bộ FDI trên Thế giới,
điều đó dễ hiểu khi ta thấy đầu tư nội bộ khối EU chiếm tỷ trọng lớn đồng
thời ngày càng gia tăng giữa các quốc gia tong nội bộ khối
Hiện nay khoảng một nửa dòng vốn đầu tư từ các nước EU được thực hiện
trong nội bộ khối EU ngày càng được gia tăng chiếm tỷ trọng từ 19,7% dòng
vốn FDI toàn cầu năm1995 tăng lên 48,1% năm 2000 đạt con số trên 550 tỷ $.
Đầu tư dưới hình thức mua lại và sáp nhập phát triển mạnh về quy mô, số
lượng và tố độ kể từ sau cơn bão tài chính tiền tệ Châu Á năm1997. Tổng giá
trị mua lại và sáp nhập của EU trrong năm 1998 đạt 332 tỷ $ bằng 80% dòng
vốn FDI của EU, gấp 3,5 lần năm 1995. Tuy nhiên, hoạt động mua lại và sáp
nhập có xu hướng nước ngoài trững lại từ cuối năm 2001. Lý do, vì tình hình
kinh tế thế giới biến động phức tạp hiện nay đã tác động mạnh mẽ đến những
tập đoàn kinh tế lớn do sự kém linh hoạt hơn các tập đoàn kinh tế hay các
công ty xuyên quốc gia (TNCs) có quy mô nhỏ hơn.
Mỹ là điểm đến chính trong dòng vốn đầu tư ra của EU. Trung bình thời kỳ
1995-2000, đầu tư của EU vào Mỹ chiếm khoảng 30% dòng FDI từ EU. Mỗi
năm đầu tư của EU vào Mỹ chiếm 60% tổng vốn FDI vào Mỹ Trong thời kỳ
1995-1997. Tỷ lệ này tăng nhanh từ 8,5% vào năm 1998 và 1999, giảm xuống
72% vào năm 2000.
2. Một số đặc điểm kinh tế nổi bật của Mỹ trong lĩnh vực FDI với Thế
giới.
Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế mạnh, với hàng trăm công ty đa quốc gia quy
mô lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, Mỹ là chủ đầu tư của nhiều nước. Mỹ
đầu tư nhiều nhất vào những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, trình độ lao động
có chuyên môn cao, luật pháp ổn định rõ ràng, mức độ rủi ro thấp. Như vậy,
những nước có nền kinh tế càng phát triển càng thu nhận nhiều FDI. Và các
nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (bao gồm cả ASEAN) là địa chỉ
hấp dẫn để thu hút FDI.
Đặc biệt FDI của Mỹ được phân bổ theo qui mô và cơ cấu nhằm tối đa hóa lợi
nhuận
2.1 - Quy mô vốn đầu tư
Cũng như đa số các nước tư bản khác, Hoa Kỳ bắt đầu hoạt động xuất khẩu tư
bản dưới hỡnh thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ cuối thế kỷ 19 và nhanh
chóng trở thành một trong những nhà đầu tư lớn nhất thế giới. Tuy nhiên,
trong khoảng vài chục năm đầu, Hoa Kỳ chỉ đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu
tư bản, sau hai cường quốc tư bản lúc ấy là Anh và Pháp. Kể từ sau cuộc
Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đến nay, Hoa Kỳ mới thực sự vươn lên trở
thành quốc gia đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế nói chung và trong lĩnh
vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng.
Bảng biểu 1 dưới đây sẽ giúp chúng ta thấy rừ hơn tỡnh hỡnh đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Hoa Kỳ trong những năm gần đây.
(*) Tính đến hết quý II năm 2002
Nguồn: Viện phõn tớch kinh tế Hoa Kỳ (BEA)
Từ bảng biểu 1 bắt đầu từ năm 1989 đến hết năm 2001, trung bỡnh mỗi năm
Hoa Kỳ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khoảng 113,2 tỷ USD và liên tục giữ vị
trí dẫn đầu thế giới về FDI. Giai đoạn 1994-2001, mức tăng FDI bỡnh quõn
hàng năm của nước này là 9,21%, trong đó tăng cao nhất vào các năm 1997-
1999 và sụt giảm trong hai năm tiếp theo , ứng với biểu đồ phát triển của nền
kinh tế Hoa Kỳ. Tuy giảm cả về tuyệt đối và tương đối (giảm tỷ trọng FDI so
với toàn thế giới) trong một, hai năm gần đây nhưng khoảng cách giữa Hoa
Kỳ và các quốc gia khác trong lĩnh vực FDI vẫn cũn tương đối lớn và nước
này vẫn tiếp tục duy trỡ vị trớ số 1 thế giới về FDI.
2.2 - Cơ cấu đầu tư
Cơ cấu theo thị trường đầu tư
Như đó phõn tớch ở trờn, luồng chảy chủ đạo của nguồn FDI toàn cầu là từ
các nước phát triển đến các nước phát triển. Hoa Kỳ cũng không nằm ngoài
xu hướng này. Bảng 1.3 trỡnh bày chi tiết về cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo thị
trường từ năm 1994 đến hết quý II năm 2002.
Bảng 2: Cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo thị trường giai đoạn 1994 - 2002
Đơn vị : triệu USD
Thị trường FDI Tỷ trọng
Canada 99447 10,09 %
Chõu Âu 533955 54,18 %
Mỹ Latinh 180574 18,32 %
Chõu Phi 12800 1,30 %
Trung Đông 8088 0,82 %
Chõu Á-TBD 147956 15,01 %
Quốc tế 2683 0,27 %
Tổng FDI 985521 100 %
(*) Tính đến hết quý II năm 2002 Nguồn: BEA
Châu Âu, nơi tập trung phần lớn các nước công nghiệp phát triển, là thị
trường FDI lớn nhất của Hoa Kỳ. Trong giai đoạn 1994-2002, hơn một nửa
lượng FDI của nước này đó đổ vào đây. Ngoài ra, chỉ riêng nước láng giềng
Canada, cũng là một quốc gia phát triển, đó thu hỳt 10,09% FDI của Hoa Kỳ.
Đó là chưa kể đến thị phần của các nước phát triển khác nằm rải rác ở những
khu vực cũn lại trên thế giới. Trong số những “khách hàng nhỏ”, các nước Mỹ
Latinh, vốn được coi là “sân sau” của Hoa Kỳ, và khu vực châu Á - Thái
Bỡnh Dương là những địa chỉ hấp dẫn hơn cả đối với nguồn FDI của Hoa Kỳ.
Điều này một lần nữa lại khẳng định sự vươn lên đầy năng động của các nước
châu Á - Thái Bỡnh Dương, mà đa số là các quốc gia đang phát triển, trong
việc thu hút FDI.
Cơ cấu theo lĩnh vực đầu tư
Bảng 3: Cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo lĩnh vực giai đoạn 1994 - 2002.
Đơn vị : triệu USD
Lĩnh vực FDI Tỷ trọng
Dầu mỏ 66800 5,18%
Sản xuất
Thực phẩm
Hoỏ chất
Luyện kim
Mỏy múc, thiết bị
Điện tử
Thiết bị vận tải
Cỏc ngành SX khỏc
280358 21,76%
21570 1,67%
82171 6,38%
16473 1,28%
36829 2,86%
68510 5,32%
28839 2,24%
48634 3,77%
Bỏn buụn 62975 4,89%
Tài chớnh, ngõn hàng 397579 30,85%
Dịch vụ 66912 5,19%
Cỏc lĩnh vực khỏc 110898 8,61%
Tổng FDI 1288548 100%
(*) Tính đến hết quý II năm 2002 Nguồn: BEA
Qua bảng 1.4 có thể thấy tài chính - ngân hàng là thế mạnh của Hoa Kỳ khi
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Lĩnh vực này chiếm trên 30% tổng FDI của
Hoa Kỳ giai đoạn 1994-2002, lớn hơn tất cả các ngành sản xuất gộp lại. Tiếp
theo là lĩnh vực sản xuất, mà đứng đầu là ngành hoá chất và điện tử. Dịch vụ
và dầu mỏ cũng là những ngành chiếm tỷ trọng khá lớn. Có thể nói FDI của
Hoa Kỳ nói chung, cũng như các lĩnh vực là thế mạnh của nước này trong
FDI nói riêng, bao trùm một phạm vi lớn các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau,
từ dầu mỏ đến điện tử, từ hoá chất đến dịch vụ và tài chính - ngân hàng. Sự đa
dạng trong lĩnh vực đầu tư này là minh chứng sinh động cho một nền kinh tế
vững mạnh và toàn diện của Hoa Kỳ.
Như vậy, chúng ta đó phõn tớch những nột khỏi quỏt trong tỡnh hỡnh đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Với cơ cấu
FDI đa dạng về thị trường cũng như về lĩnh vực đầu tư, đặc biệt là với một
lượng vốn FDI khổng lồ qua các năm, có thể nói Hoa Kỳ đó khẳng định được
vị trí số 1 thế giới trong lĩnh vực FDI. Để đạt được và duy trỡ vị trớ này trong
một khoảng thời gian dài liờn tục, Hoa Kỳ đó và đang có những chiến lược
hết sức phong phú, đa dạng trong các hoạt động FDI của mỡnh trờn toàn cầu.
Cỏc chiến lược đó có thể được đề cập trên nhiều phưong diện khác nhau.Đó
là chiến lược trên tầm vĩ mô của chính phủ Hoa Kỳ và chiến lược trên tầm vi
mô của các công ty nước này khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
3. Một số đặc điểm kinh tế nổi bật của Nhật trong lĩnh vực FDI với Thế
giới.
Nhật là một trong những nước có tiềm năng kinh tế có thể nói ngang hàng với
Mỹ trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Cũng như các nhà đầu tư
khác, Nhật phân bổ nguồn vốn đầu tư của mình theo ngành, theo khu vực
nhằm thu được tối đa lợi nhuận.
3.1. FDI theo cơ cấu ngành:
Ngành công nghiệp khai khoáng ngày càng có xu hướng giảm,thay thế vào đó
là những ngành mang hình thức thương mại, tài chính, tiền tệ, dịch vụ bảo
hiểm, kinh doanh và một số dịch vụ khác. Riêng trong lĩnh vực đầu tư vào các
ngành chế tạo thì vẫn ở mức độ không cao lắm.
3.2. FDI theo cơ cấu khu vực địa lý:
Nhật vẫn ưu tiên hàng đầu cho các quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, khu vực Châu Á luôn được Nhật tăng cường đầu tư thôn. Tuy
nhiên, Nhật cũng dang chuyển hướng đầu tư sang các nước có nền kinh tế
phát triển trong đó Mỹ có quan hệ đầu tư ra nước ngoài lớn nhất sau đó mới
đến các nước thuộc EU và Châu Á là khu vực được Nhật tập trung đầu tư.
II. ĐẶC ĐIỂM FDI CỦA EU, MỸ, NHẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
VÀO VIỆT NAM.
1. Vị trí của EU trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt
Nam.
Đầu tư của EU vào Việt Nam trong chiến lược Châu Á mới của mình cũng
xác định Việt Nam là mũi đột để từ đó thâm nhập vào các thị trường khác ở
Châu Á, bởi EU đã tìm thấy ở Việt Nam nhiều lợi thế để chọn Việt Nam là
"địa bàn đầu cầu", địa điểm quan trọng chiến lược đối ngoại của mình. Tuy
nhiên, trong tình hình hiện nay do Trung Quốc đang là nước thu hút mạnh mẽ
FDI dồng thời những nhà đầu tư từ EU phần lớn là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ so với quy mô doanh ngiệp các nước phát triển của Thế giới.
2. Vị trí của Mỹ trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam
Từ sau khi Mỹ chính thức xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt nam vào ngày
3/2/1994, hoạt động đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ vào Việt nam đã có
bước nhảy vọt. Nhiều công ty và tập đoàn kinh tế Mỹ vào Việt nam với mục
đích là thăm dò hoạt động đầu tư của thị trường này. Chỉ riêng năm 1994 -
năm đầu tiên khi lệnh cấm vận được bải bỏ - số vốn đầu tư của Mỹ vào Việt
nam đã tăng vọt lên 120,310 triệu USD với 12 dự án, đưa nước này lên vị trí
thứ 14 trong danh sách các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt nam. So với cả giai
đoạn 1988-1993, khi lệnh cấm vận còn hiệu lực, đầu tư trực tiếp của Mỹ vào
Việt nam với tổng số vốn đăng ký là 3,34 triệu USD. Điều này cho thấy: trước
khi Mỹ xoá bỏ cấm vận, các công ty của Mỹ đã rất sốt ruột muốn được vào
đầu tư kinh doanh tại Việt nam, để có cơ hội cạnh tranh với các công ty của
Nhật Bản, Châu Âu và các nước khác. Do đó khi huỷ bỏ lệnh cấm vận, các
công ty Mỹ đã "nhảy" vào đầu tư ở Việt nam. Cụ thể, sau khi huỷ bỏ lệnh
cấm vận 1 ngày, đã có 30 công ty mở văn phòng đại diện tại Việt nam, "mở
đầu cuộc đấu tranh để giành trái tim và ví tiền của người Việt nam". Chỉ vài
năm sau đó, nhất là khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao, đầu tư của Mỹ
tại Việt nam đã tăng lên nhanh chóng.
3. Vị trí của Nhật trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam
Sau khi luật đầu tư của Việt Nam ra đời thì Nhật vẫn còn do dự chưa thực sự
đầu tư vào nước ta, một phần là do lệnh cấm vận của Mỹ tác động. Chỉ cho
đến ba năm sau kể từ 1 dự án duy nhất vào đầu năm 1990 với tổng vốn chỉ là
1 triệu USD, Nhật đã đầu tư vào ta tới 20 dự án vào năm 1991 và đứng thứ tư
trên thế giới với số vốn gấp nhiều lần so với năm 1991 là 791 triệu USD với
76 dự án. Đến năm 1995 Nhật đã đứng thứ ba sau Đài Loan và Hồng Kông
với tổng số vốn đầu tư lên xấp xỉ 2 tỷ USD.
1996-1997 là những năm khó khăn trong lĩnh vực đầu tư ra nức ngoài nói
chung do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, năm 1997
giảm xuống chỉ còn 54 dự án với tương đương 606 triệu USD. Đến đầu năm
1999 thì tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật ở Viêt Nam chỉ xấp xỉ 3.892
triệu USD với khoảng 300 dự án.
4. Nhân tố tác động đến thu hút FDI của EU , Mỹ, Nhật vào Việt Nam.
Ta nhận thấy tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là lợi nhuận. Tuy
nhiên, việc đầu tư vào đâu, vào quốc gia nào vào lĩnh vực nào lại ảnh hưởng
lớn bởi môi trường đầu tư trong nước và quốc tế. Dưới đây xin đề cập đến
một số nhân tố tác động đến thu hút FDI của EU, Mỹ, Nhật vào Việt Nam.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét