Luận văn tốt nghiệp
5
Giá cả hàng hoá đợc quyết định ngay trên thị trờng do sự tác động
qua lại của cung và cầu. Vì vậy, giá cả trong nền kinh tế thị trờng không bao
giờ cố định nhng cái quyết định vẫn là giá trị.
Cạnh tranh là một tất yếu của thị trờng bởi các doanh nghiệp trong nền
kinh tế hàng hoá đều mong muốn và coi mục tiêu cuối cùng của mình là thu
đợc lợi nhuận. Chính vì vậy, mà khi tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị
trờng họ phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ trong cùng một ngành
hoặc khác ngành. Cạnh tranh sẽ đào thải những doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh không có hiệu quả và sẽ giúp cho các doanh nghiệp "chiến thắng " có
đợc nhiều kinh nghiệm hơn trên thơng trờng và lớn mạnh hơn về tiềm lực
kinh tế.
Kinh tế thị trờng là hệ thống kinh tế mở. Kinh tế thị trờng luôn đòi hỏi
sự mở cửa, bởi một nền kinh tế mà hàng hoá luôn dồi dào thì sẽ dẫn đến sự ứ
đọng hàng hoá trong nớc nếu ta không mở cửa, khiến dẫn đến hiện tợng
khủng hoảng thừa nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những giao dịch với
nớc ngoài để có thể làm giảm đợc hàng hoá thừa đồng thời nhờ có nền kinh
tế mở mà ta có thể có đợc các loại hàng hoá mà ta còn thiếu hoặc cha sản
xuất đợc. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi mà quốc tế hoá ngày càng lớn
thì việc mở cửa là một vấn đề hết sức quan trọng.
1.1.1.2 ảnh hởng của nền kinh tế thị trờng đối với nghiệp vụ bán hàng
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp trớc hết phải
giải đáp các vấn đề: kinh doanh hàng hoá gì, hớng tới đối tợng khách hàng
nào và kinh doanh nh thế nào.
Nếu nh trớc đây các doanh nghiệp thơng mại hoạt động theo một hệ
thống các chỉ tiêu từ trên xuống dới: vốn do nhà nớc cấp, kế hoạch mua bán,
giá cả đã có sẵn chỉ việc tuân theo, lãi doanh nghiệp hởng, lỗ nhà nớc
chịuKhi chuyển sang nền kinh tế thị trờng không còn đợc nhà nớc bao cấp
nữa, các doanh nghiệp thơng mại phải tự tìm hớng đi cho mình, tự hạch toán
độc lập. Do vậy, mỗi doanh nghiệp thơng mại phải đề ra chiến lợc kinh
Luận văn tốt nghiệp
6
doanh đúng đắn để có thể đạt đợc mục tiêu của mình trong cuộc cạnh tranh
đầy khắc nghiệt này. Có thể nói, tiêu thụ hàng hoá trong nền kinh tế thị trờng
là quá trình gồm nhiều hoạt động: nghiên cứu thị trờng, nghiên cứu ngời tiêu
dùng, các chính sách và hình thức bán hàngđể doanh nghiệp tiếp cận đợc với
khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do có sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế nên doanh nghiệp phải nắm bắt rõ nhu cầu thị hiếu của
ngời tiêu dùng, phục vụ cho họ những sản phẩm tốt nhất cả về kiểu dáng, chất
lợng, giá cả cùng các dịch vụ kèm theo.
Vì vậy các nhà kinh doanh cần tìm kiếm những biện pháp thúc đẩy tiêu
thụ hàng hoá và từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung. Qua
hoạt động bán hàng doanh nghiệp từng bớc chiếm lĩnh thị trờng, thu lợi
nhuận, tạo dựng vị thế và uy tín của mình trên thơng trờng.
1.1.2 Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thơng mại
1.1.2.1 Khái niệm bán hàng
Bán hàng là quá trình trao đổi thông qua các phơng tiện thanh toán để
thực hiện giá trị của hàng hoá, dịch vụ. Trong quá trình đó doanh nghiệp
chuyển giao sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng còn khách hàng phải
trả cho doanh nghiệp khoản tiền tơng ứng với giá bán của sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ theo giá qui định hoặc giá thoả thuận. Hàng hoá trong các doanh
nghiệp thơng mại là hàng hoá mua vào đế bán ra nhằm đáp ứng nhu cầu sản
xuất, tiêu dùng và xuất khẩu. Quá trình bán hàng là quá trình vận động của vốn
kinh doanh từ vốn hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả kinh
doanh. Quá trình bán hàng hoàn tất khi hàng hoá đợc chuyển giao cho ngời
mua và doanh nghiệp đã thu đợc tiền bán hàng hoặc khách hàng chấp nhận
thanh toán.
Qua đó, ta có thể khái quát đặc điểm chủ yếu của quá trình bán hàng nh
sau:
Luận văn tốt nghiệp
7
- Về mặt hành vi: Có sự thoả thuận trao đổi diễn ra giữa ngời mua và ngời
bán. Ngời bán đồng ý bán, ngời mua đồng ý mua, ngời bán xuất giao hàng
cho ngời mua, ngời mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
- Về bản chất kinh tế: Bán hàng là quá trình thay đổi quyền sở hữu hàng hoá.
Sau khi bán hàng quyền sở hữu hàng hoá chuyển cho ngời mua, ngời bán
không còn quyền sở hữu về số hàng đã bán.
Thực hiện quá trình bán hàng, đơn vị bán xuất giao cho khách hàng một
khối lợng hàng hoá nhất định theo thoả thuận hoặc hợp đồng đã ký kết và sẽ
nhận lại từ khách hàng một khoản tiền tơng ứng với giá bán số hàng hoá đó.
Doanh thu bán hàng đợc hình thành đó chính là nguồn bù đắp chi phí và
hình thành kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Về nguyên tắc chỉ khi nào chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ đơn vị bán
sang khách hàng và khách hàng thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì
hàng mới đợc coi là bán, lúc đó mới phản ánh doanh thu. Do đó tại thời điểm
xác nhận là bán hàng và ghi nhận doanh thu có thể doanh nghiệp thu đợc tiền
hàng hoặc cũng có thể cha thu đợc vì ngời mua mới chấp nhận trả.
1.1.2.2 Vai trò của bán hàng
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn và nó là cơ
sở để xác định kết quả bán hàng.
Với các doanh nghiệp, bán đợc hàng thì mới có thu nhập để bù đắp chi
phí đã bỏ ra và có lãi. Xác định chính xác doanh thu bán hàng là cơ sở để đánh
giá các chỉ tiêu kinh tế tài chính, trình độ hoạt động của đơn vị và thực hiện
nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nớc.
Đối với ngời tiêu dùng công tác bán hàng đáp ứng đợc nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng. Chỉ có thông qua bán hàng thì tính hữu ích của hàng hoá
mới đợc thực hiện và đợc xác định về mặt số lợng, chất lợng, chủng loại,
thời gian, sự phù hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng mới đợc xác định rõ. Nh
vậy bán hàng là điều kiện để tái sản xuất xã hội.
Luận văn tốt nghiệp
8
Quá trình bán hàng còn ảnh hởng đến quan hệ cân đối giữa các nghành,
giữa các doanh nghiệp với nhau, tác động đến quan hệ cung cầu trên thị
trờng.Công tác bán hàng của doanh nghiệp mà tổ chức tốt, thông suốt sẽ tác
động đến hoạt động mua hàng, sản xuất, dự trữ, tạo điều kiện thúc đẩy quá
trình kinh doanh tiến hành một cách nhanh chóng, đồng vốn đợc luân chuyển
nhanh. Kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng thị
trờng, nâng cao nghiệp vụ, trình độ quản lý và đời sống của cán bộ công nhân
viên trong doanh nghiệp, tạo nguồn tích luỹ quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Một doanh nghiệp đợc coi là kinh doanh có hiệu quả nếu có tích luỹ và
toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh đều đợc bù đắp lại bằng thu
nhập về bán hàng.
Bán hàng là điều kiện vô cùng quan trọng để doanh nghiệp đứng vững
trên thị trờng. Do đó công tác bán hàng cần phải đợc nắm bắt, theo dõi chặt
chẽ, thờng xuyên quá trình bán hàng từ khâu mua hàng, dự trữ, bán hàng,
thanh toán thu nộp kịp thời đảm bảo xác định kết quả kinh doanh đúng tránh
hiện tợng lãi giả, lỗ thật.
1.1.2.3 Các phơng thức bán hàng
1.1.2.3.1 Phơng thức bán buôn
Bán buôn là việc bán hàng cho các đơn vị, cá nhân (những ngời trung
gian) để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho ngời sản xuất để tiếp tục sản
xuất ra sản phẩm. Hàng hoá sau khi bán vẫn còn nằm trong lu thông, hoặc
trong sản xuất, cha đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng. Bán hàng theo phơng
thức này thờng bán với khối lợng lớn và có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Trong doanh nghiệp thơng mại, bán buôn hàng hoá thờng áp dụng hai
phơng thức:
Bán buôn qua kho: là phơng thức bán hàng mà hàng hoá đợc đa về kho
của đơn vị rồi mới tiếp tục chuyển bán. Bán buôn qua kho đợc tiến hành dới
hai hình thức:
Luận văn tốt nghiệp
9
-
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
: theo hình thức này
bên mua cử cán bộ nghiệp vụ trực tiếp đến nhận hàng trực tiếp tại kho của bên
bán. Số hàng đợc xác định là tiêu thụ khi đại diện bên mua ký nhận hàng và
đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ.
-
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng
: theo hình thức này bên bán
xuất kho để giao hàng cho bên mua tại địa điểm ngời mua đã qui định trong
hợp đồng kinh tế giữa hai bên bằng phơng tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài.
Khi hàng hoá vận chuyển thì vẫn thuộc bên bán. Chứng từ gửi hàng đi là phiếu
gửi hàng, vận đơn vận chuyển. Chứng từ bán hàng cũng là hoá đơn hoặc phiếu
xuất kho kiêm hoá đơn. Hàng hoá gửi đi cha phải là bán mà vẫn thuộc quyền
sở hữu doanh nghiệp. Hàng gửi đi đợc xác định là tiêu thụ khi bên mua trả tiền
hoặc chấp nhận trả tiền.
Bán buôn vận chuyển thẳng: Là trờng hợp hàng hoá bán cho bên mua
đợc giao thẳng từ kho của bên cung cấp hoặc giao thẳng từ bến cảng nhà ga
chứ không qua kho của công ty. Bán buôn vận chuyển thẳng là phơng thức
bán hàng tiết kiệm nhất vì nó giảm đợc chi phí lu thông, tăng nhanh sự vận
động của hàng hoá. Nhng phơng thức này chỉ áp dụng trong trờng hợp cung
ứng hàng hoá có kế hoạch, khối lợng hàng hoá lớn, hàng bán ra không cần
chọn lọc, bao gói. Phơng thức này có thể thực hiện theo các hình thức sau:
-
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếpBán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (hình thức giao
(hình thức giao (hình thức giao
(hình thức giao
tay ba
tay batay ba
tay ba)
) )
)
:
::
: Theo hình thức này, doanh nghiệp tiến hành buôn bán với bên cung
cấp về mua hàng đồng thời tiến hành thanh toán với bên mua về bán hàng. Cả 3
bên cùng chứng kiến việc giao nhận hàng hoá. Khi bên mua ký nhận đủ hàng
và đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ thì hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ.
-
Bán buôn vận vận chuyển thẳng theo hình thức vận chuyển
Bán buôn vận vận chuyển thẳng theo hình thức vận chuyểnBán buôn vận vận chuyển thẳng theo hình thức vận chuyển
Bán buôn vận vận chuyển thẳng theo hình thức vận chuyển hàng
hànghàng
hàng
:Theo hình
thức này, doanh nghiệp thơng mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, bằng
phơng tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến giao cho bên mua
tại địa điểm đã qui định trong hợp đồng kinh tế. Hàng hoá đợc xác định là tiêu
Luận văn tốt nghiệp
10
thụ khi nhận đợc tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã
nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán.
1.1.2.3.2 Phơng thức bán lẻ hàng hoá
Bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu cá
nhân và tập thể. Hàng hoá sau khi bán đi vào tiêu dùng trực tiếp, kết thúc khâu
lu thông. Khối lợng hàng bán thờng nhỏ, phong phú đa dạng cả về chủng
loại, mẫu mã. Trong bán lẻ có thể áp dụng các hình thức sau:
Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp : Đây là hình thức bán hàng mà nhân
viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách. Trong
hình thức này nhân viên bán hàng là ngời chịu trách nhiệm vật chất về số hàng
đã nhận ra quầy để bán lẻ. Để phản ánh rõ số lợng hàng nhận ra và đã bán thì
nhân viên bán hàng phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ trên các thẻ hàng ở
quầy hàng. Thẻ hàng đợc mở cho từng mặt hàng để ghi chép sự biến động của
hàng hóa trong từng ca, từng ngày. Cuối ca, ngày nhân viên bán hàng phải kiểm
tiền, làm giấy nộp tiền bán hàng trong ca, cuối ngày để ghi chép vào thẻ và lập
báo cáo bán hàng. Phơng thức này áp dụng phổ biến ở những công ty thơng
mại bán lẻ vì tiết kiệm đợc lao động, khách mua hàng thuận tiện nhng nếu
không quản lý chặt chẽ dễ xảy ra tiêu cực, mất tiền
Hình thức bán hàng thu tiền tập trung: Là phơng thức bán hàng mà
nghiệp vụ bán hàng và thu tiền tách rời nhau, mỗi quầy hàng có nhân viên thu
ngân làm nhiệm vụ viết hoá đơn hoặc tích kê thu tiền của khách mua hàng.
Khách hàng sẽ cầm hoá đơn hoặc tích kê đến nhận hàng ở quầy do nhân viên
thu ngân giao và trả hoá đơn, tích kê cho nhân viên bán hàng. Cuối ca, cuối
ngày nhân viên thu ngân kiểm tiền làm giấy nộp tiền bán hàng, còn nhân viên
bán hàng căn cứ vào số hàng đã giao theo các hoá đơn và tích kê thu lại hoặc
kiểm kê hàng hoá còn lại cuối ca, cuối ngày để xác định hàng hóa đã giao, lập
báo cáo bán hàng trong ca(ngày). Đối chiếu số tiền nộp theo giấy nộp tiền với
doanh thu bán hàng theo các báo cáo bán hàng để xác định thừa và thiếu tiền
hàng. Do có việc tách rời giữa ngời bán và ngời thu tiền nh vậy sẽ tránh
Luận văn tốt nghiệp
11
đợc sai sót, mất mát hàng hoá và tiền. Ngời bán chỉ giao hàng nên tránh đợc
nhầm lẫn về tiền hàng trong quá trình bán, mặt khác họ sẽ có nhiều thời gian để
chuẩn bị hàng hoá phục vụ khách hàng tốt hơn. Tuy vậy, hình thức này lại gây
phiền hà cho khách hàng, vì thế chỉ áp dụng với những mặt hàng có giá trị cao.
Hình thức bán hàng trả góp: Là phơng thức bán hàng thu tiền nhiều lần.
Ngời mua sẽ thanh toán lần đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại ngời mua
chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo. Ngoài số tiền phải trả theo giá mua hàng
hoá, ngời mua còn phải trả thêm một khoản tiền lãi do trả chậm. Theo hình
thức trả góp, về mặt hạch toán khi giao hàng cho ngời mua thì lợng hàng
chuyển giao đợc coi là tiêu thụ. Hình thức này giúp doanh nghiệp mở rộng thị
trờng tiêu thụ, thu hút đợc nhiều khách hàng.
Hình thức bán hàng tự phục vụ: Hình thức này hiện đang phát triển mạnh
mẽ ở nớc ta, đợc tổ chức dới dạng cửa hàng tự chọn hoặc siêu thị. Khách
hàng đến mua hàng tự do lựa chọn rồi mang ra bộ phận thu tiền để thanh toán.
Nhân viên thu ngân tính rồi thu tiền của khách hàng lập hoá đơn bán hàng và
cuối ngày nộp tiền cho thủ quỹ. Hình thức này đòi hỏi vốn đầu t lớn vì phải
trang bị các phơng tiện kỹ thuật hiện đại vào việc bán hàng.
1.1.2.3.3 Phơng thức bán hàng đại lý
Là phơng thức mà doanh nghiệp thơng mại xuất hàng giao cho bên
nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ trựctiếp bán hàng, thanh toán tiền cho doanh
nghiệp thơng mại và đợc hởng hoa hồng đại lý. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp và đợc xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp
nhận đợc tiền do bên đại lý thanh toán hoặc nhận giấy báo chấp nhận thanh
toán.
1.1.2.4 Giá cả hàng hoá
Các doanh nghiệp thơng mại hiện nay trên thị trờng đều cạnh tranh với
nhau bằng giá cả và chất lợng hàng hoá. Tuy nhiên, dù hàng hoá có chất lợng
tốt đi chăng nữa mà giá lại quá cao thì không thể thu hút đợc khách hàng. Bởi
Luận văn tốt nghiệp
12
vậy, giá cả là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng, là vũ khí chiến lợc
có vai trò quyết định đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong nền
kinh tế thị trờng, lợi nhuận đợc coi là một tiêu chí quan trọng, là mục tiêu
cuối cùng mà mỗi doanh nghiẹp đều hớng tới. Vì thế, việc xác định giá bán là
một công việc rất khó khăn, mỗi doanh nghiệp phải tự xác định cho mình mức
giá phù hợp dựa vào nhu cầu thị trờng, điều kiện của mìnhHiện nay doanh
nghiệp thờng xác định giá bán theo công thức:
Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thơng mại
Thặng số thơng mại = Giá mua thực tế x Tỉ lệ(%)thặng số thơng mại
Từ đó ta có:
Giá bán = Giá mua thực tế x [ 1+Tỉ lệ (%) thặng số thơng mại ]
1.1.2.5 Các phơng thức thanh toán
Trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp thờng xuyên
phát sinh các hoạt động thanh toán với các đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên
quan nh thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ với ngời cung cấp, thanh toán tiền
thuế với cơ quan thuếMặt khác với t cách là một nhà cung cấp, doanh nghiệp
cũng nhận thờng xuyên các khoản thanh toán từ các khách hàng của mình.
Việc thanh toán tiền hàng đợc tiến hành theo nhiều phơng thức, có thể trả
tiền trớc, trả tiền ngay, trả tiền sau tuỳ theo sự thoả thuận mua bán giữa hai
bên. Đồng thời nó đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên và nó giúp cho việc quản
lý tiền vốn trong doanh nghiệp phù hợp với sự vận động của chúng. Hiện nay
các doanh nghiệp thơng mại áp dụng 2 hình thức chủ yếu sau:
Phơng thức thanh toán ngay : Sau khi giao hàng cho bên mua và bên mua
chấp nhận thanh toán luôn, bên bán có thể thu tiền hàng ngay bằng tiền mặt,
séc, hoặc có thể bằng hàng ( nếu bán hàng theo phơng thức hàng đổi hàng ).
Phơng thức này áp dụng đối với khách hàng không thờng xuyên liên tục giao
dịch thì trớc khi nhận hàng phảI thanh toán đầy đủ tiền hàng theo hoá đơn.
Luận văn tốt nghiệp
13
Nếu muốn nợ lạI phảI có tàI sản thế chấp hay tín chấp của công ty, cá nhân
khác đứng ra cam đoan trả đúng hạn theo quy định.
Phơng thức thanh toán chậm trả : Theo phơng thức này, bên bán sẽ
nhận đợc tiền hàng sau một khoảng thời gian mà hai bên thoả thuận trớc. Do
đó hình thành khoản công nợ phảI thu của khách hàng. Nợ phảI thu cần đợc
hạch toán chi tiết cho từng đối tợng phảI thu. Việc cho khách hàng nợ hay là
thanh toán sau đối với doanh nghiệp chỉ hạn chế trong một thời gian ngắn mà
cho một số ít khách hàng mua bán thờng xuyên, có tín nhiệm, làm ăn lâu dài.
1.1.2.6 Phạm vi và thời điểm ghi chép
Trong doanh nghiệp thơng mại, bán hàng là khâu cuối cùng của hoạt
động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinh doanh. Bởi vậy,
việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho việc xác
định chính xác doanh thu bán hàng, từ đó tạo đIều kiện cho việc tổ chức kế
toán bán hàng đợc khoa học và theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu của
khách hàng để đôn đốc khách hàng thanh toán kịp thời.
Hàng hoá đợc gọi là hàng bán khi doanh nghiệp xuất giao hàng cho
khách hàng đã thu đợc tiền ngay hoặc khách hàng đã chấp nhận thanh toán.
Theo quy định hiện nay, hàng hoá của doanh nghiệp đợc xác định là hàng bán
trong các trờng hợp:
- Thực hiện bán hàng theo phơng thức trả ngay ( đã thu đợc tiền mặt, séc,
giấy báo có)
- Thực hiện bán hàng theo phơng thức trả chậm, khoản tiền này đợc goi là
khoản phải thu của khách hàng. Doanh thu này là doanh thu trả chậm.
- Khách hàng ứng trớc tiền mua hàng của doanh nghiệp. Khi chuyển hàng
trả cho khách thì hàng hoá đó đợc coi là hàng bán và khi đó doanh thu bán
hàng cũng đợc ghi nhận.
Nh vậy, thời điểm để xác định hàng bán không phải tính từ lúc xuất
giao hàng cho khách hàng mà phải căn cứ vào thời điểm thanh toán của khách
hàng, tức là lúc doanh nghiệp thu đợc tiền về nếu khách hàng thanh toán bằng
Luận văn tốt nghiệp
14
tiền mặt hoặc nhận giấy báo có của ngân hàng nếu khách hàng thanh toán bằng
hình thức chuyển khoản qua ngân hàng. Do đó, hàng hoá gửi đi của doanh
nghiệp về mặt pháp lý vẫn thuộc quyền sở hữu của đơn vị, chỉ khi nào khách
hàng trả tiền hay chấp nhận thanh toán thì lúc đó số hàng hoá gửi đi mới thuộc
quyền sở hữu của khách hàng. Khi đó hàng hoá của doanh nghiệp mới đợc coi
là hàng bán và doanh thu bán hàng sẽ đợc ghi nhận.
1.1.3 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng
Nghiệp vụ bán hàng có liên quan đến nhiều khách hàng khác nhau, các
phơng thức bán hàng, các thể thức thanh toán. Quản lý nghiệp vụ bán hàng
trong doanh nghiệp thơng mại chính là việc quản lý về số lợng, chất lợng,
giá cả hàng hoá, về việc thu hồi tiền hàng và xác định kết quả kinh doanh. Yêu
cầu:
- Để quản lý về số lợng đòi hỏi phải thờng xuyên phản ánh giám đốc tình
hình sự vận động của từng loại hàng hoá trong quá trình nhập xuất tồn
kho cả về số lợng và mặt hàng, phát hiện kịp thời hàng hoá ứ đọng để có biện
pháp giải quyết nhanh chóng số hàng.
- Về mặt chất lợng, phải làm tốt công tác kiểm tra, phân cấp mặt hàng và có
chế độ bảo quản riêng đối với từng loại mặt hàng, nhất là các loại mặt hàng dễ
h hỏng, kịp thời phát hiện các sản phẩm kém phẩm chất. Có nh vậy mới giữ
đợc uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng, kéo dài chu kỳ khai thác của
doanh nghiệp.
- Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng, từng thể thức thanh
toán, từng loại hàng hoá và từng khách hàng. Đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy
đủ tiền hàng.
- Tính toán xác định đúng đắn kết quả từng loại hoạt động và thực hiện
nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nớc theo quy định.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét