Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại PTI

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
giao thông, thậm chí do nhu cầu thị trường, do cuộc sống mà người ta sử dụng
những chiếc xe đã cũ nát, không đảm bảo an toàn để mà chuyên chở hàng
hóa…. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra các vụ tai nạn giao thông làm chết
hàng vạn người và bị thương không biết bao cá nhân. Đồng thời có rất nhiều
chủ xe cơ giới gặp khó khăn khi các phương tiện giao thông của họ gặp tai
nạn.
Từ thực tế đau thương và thảm khốc đó nghiệp vụ “ Bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ” đã ra đời với
mục đích chia sẻ rùi ro, giảm bớt đau thương, thiệt hại cho người bị nạn và
chủ phương tiện. Đây là một nghiệp vụ bảo hiểm mang tính chất xã hội cao
cả, giúp ổn định xã hội thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Thấy được tâm quan trọng của nghiệp vụ này tôi đã nghĩ đến việc tìm
hiểu, nghiên cứu và viết về đề tài “Thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba taij PTI”. Bài nghiên
cứu của tôi gồm ba phần lớn như sau:
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN
SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI CÔNG TY
BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN (PTI)
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI
NGƯỜI THỨ 3 TẠI PTI
SV: Nguyễn Thị Lâm 5 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3
1.1. Khái niệm về trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm dân sự
1.1.1 Trách nhiệm dân sự
a. Khái niệm
Trách nhiệm dân sự luôn được các luật gia Việt Nam hiện nay xem là
một loại trách nhiệm pháp lý – một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên
cứu tổng quát trong môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Trách
nhiệm pháp lý được cho là việc một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất
lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp luật. Nghĩa vụ
dân sự là một quan hệ pháp lý giữa trái chủ và người thụ trái xác định, tại đó
người thụ trái bị pháp luật cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ. Việc vi phạm nghĩa
vụ được xem như vi phạm pháp luật, người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu
hậu quả bất lợi gọi là trách nhiệm dân sự.
b. Đặc điểm
Từ khái niệm trách nhiệm dân sự trên, ta có thể rút ra được một số
đặc điểm của trách nhiệm dân sự như sau:
Trước hết, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, khác với
trách nhiệm đạo đức, mà ở đây trách nhiệm pháp lý có mục đích xác lập các
chế tài cụ thể.
Thứ hai, trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một
biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường
cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra. Trách nhiệm dân sự khác với trách
nhiệm hình sự ở chỗ: trách nhiệm hình sự tập trung sự chú ý vào hành vi; còn
trách nhiệm dân sự tập trung sự chú ý vào thiệt hại hay hậu quả của hành vi.
Do đó, trong trách nhiệm dân sự, dù có hành vi vi phạm nhưng không có sự
thiệt hại, thì không dẫn tới nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, trong trách nhiệm
hình sự người ta cũng quan tâm tới hậu quả ở mức độ nhất định. Và trong
SV: Nguyễn Thị Lâm 6 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trách nhiệm dân sự đôi khi người ta (ở một số nền tài phán) cũng chỉ chú ý tới
hành vi trong một dạng trách nhiệm nhất định nào đó. Trách nhiệm hình sự
thể hiện sự phản ứng của xã hội đối với kẻ phạm tội trên cơ sở suy diễn hành
vi bị trừng phạt đó chống lại sự bình ổn chung của cộng đồng. Ngược lại,
trách nhiệm dân sự không phải là sự phản ứng của xã hội đối với người vi
phạm mà là sự hỗ trợ của pháp luật đối với người bị thiệt hại do vi phạm gây
ra để khôi phục lại tình trạng tài chính như khi không có sự vi phạm. Vì vậy
các chế tài dân sự mang tính chất tư, chứ không mang tính chất công như chế
tài hình sự. Dù sao cũng có những vi phạm xảy ra làm phát sinh cả trách
nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm lương tâm.
Thứ ba, trách nhiệm dân sự được chia thành trách nhiệm hợp đồng và
trách nhiệm ngoài hợp đồng. Có tác giả chia trách nhiệm ngoài hợp đồng
thành trách nhiệm dân sự phạm và trách nhiệm chuẩn dân sự phạm (20).
Trách nhiệm hợp đồng phát sinh khi hợp đồng không được thực hiện gây thiệt
hại cho bên bị vi phạm và bên bị vi phạm đòi bồi thường. Trách nhiệm ngoài
hợp đồng phát sinh khi một người có lỗi gây thiệt hại cho một người khác và
người bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường. Trách nhiệm hợp đồng hay trách
nhiệm ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ đều phát sinh từ việc vi phạm nghĩa
vụ, nhưng được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm phát sinh từ hợp đồng hoặc
từ pháp luật. Tuy nhiên sự phân biệt có ý nghĩa trong việc chứng minh. ở đây,
cần phân biệt thêm rằng, trách nhiệm hợp đồng là một nguồn gốc phát sinh
nghĩa vụ khác với hợp đồng. Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh trên cơ sở sự thống
nhất ý chí của các đương sự hay hành vi pháp lý. Còn nghĩa vụ bồi thường
phát sinh ngoài ý chí của đương sự, có nghĩa là do luật định. Quan niệm này
có thể còn phải tranh luận, ví dụ trong hợp đồng có thể qui định về chế tài vi
phạm hợp đồng, và khi hợp đồng bị vi phạm, bên vi phạm tự nguyện thi hành.
Nhưng cũng có ý kiến phân tích: khi hợp đồng bị vi phạm thì người vi phạm
không mong muốn phải gánh chịu chế tài như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu
rằng nếu các bên đặt ra các giải pháp và tự thi hành trong việc vi phạm nghĩa
SV: Nguyễn Thị Lâm 7 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vụ hợp đồng, thì không dẫn tới tranh chấp pháp lý, do đó không cần thiết sự
cưỡng chế thi hành. Nên đặt vấn đề nghĩa vụ trong trường hợp này ít có ý
nghĩa.
1.1.2. Các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự.
Các yếu tố làm phát sinh nghĩa vụ dân sự chính là một số căn cứ làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự được quy định tại điều 13 Bộ luật Dân sự
2005. Cụ thể các yếu tố làm phát sinh nghĩa vụ gồm:
Điều 13. Căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự
Quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:
1. Giao dịch dân sự hợp pháp;
2. Quyết định của Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác;
3. Sự kiện pháp lý do pháp luật quy định;
6. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;
7. Thực hiện công việc không có uỷ quyền;
8. Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp
luật;
9. Những căn cứ khác do pháp luật quy định.
1.1.3. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức đều phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật cho từng hành vi ứng xử của mình. Nhìn chung,
khi một người nào đó vì bất cẩn mà gây ra thiệt hại cho người khác thì phải
chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại đó mà mình gây ra.
Trách nhiệm bồi thường cho người khác có thể phát sinh theo hợp
đồng khi giữa các bên có liên quan có mối quan hệ hợp đồng ( ví dụ như hợp
đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động: hợp đồng vận
chuyển giữa hãng vận chuyển và hành khách; hợp đồng mua bán giữa nhà sản
xuất và khách hàng…) hoặc phát sinh ngoài hợp đồng ( ví dụ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với bên thứ ba ). Cho dù phát sinh theo hợp đồng hay
SV: Nguyễn Thị Lâm 8 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường theo luật đều khiến các cá nhân và
các tổ chức ( thường là các doanh nghiệp ) có phát sinh trách nhiệm phải chịu
thiệt hại tài chính một cách gián tiếp. Tùy theo lỗi và thiệt hại thực tế của bên
thứ ba mà thiệt hại trách nhiệm phát sinh có thể là rất lớn hoặc không đáng
kể. Trong trường hợp phải bồi thường thiệt hại với một số tiền lớn, sự ổn định
tài chính của cá nhân hay tổ chức có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bảo hiểm trách nhiệm ra đời một mặt giúp cho các cá nhân và tổ chức
trong xã hội có thể ổn định tài chính khi trách nhiệm pháp lý phát sinh, mặt
khác đảm bảo khả năng được bồi thường cho bên bị thiệt hại do lỗi của các cá
nhân và tổ chức này. Có rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm khác nhau,
tuy nhiên có một cố nghiệp vj bảo hiểm chủ yếu sau:
•BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
•BH TNDS của nhà vận chuyển trong ngành hành không dân dụng;
•BH TNDS của chủ sử dụng lao động đối với người lao động
•Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
•Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
•Bảo hiểm trách nhiệm đối với tài sản
•BH TNDS của chỉ tàu biển
1.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới đối với người thứ 3
1.2.1 Sự cần thiết phải triển khai nghiệp vụ bảo hểm trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3
Lịch sử phát triển bao đời nay đã cho thấy những rủi ro bất ngờ luôn xảy
ra ngoài ý muốn của con người. Mà tính mạng con người là vô giá không thể
tính toán bằng tiền cụ thể, cũng khó có thể đánh giá được thiệt hại về sức
khoẻ một cách chính xác.
Công cuộc phát triển về giao thông vận tải đã đem lại sự phồn vinh cho
toàn xã hội song điều đó lại cũng chính là nguyên nhân gây ra tai nạn, làm
SV: Nguyễn Thị Lâm 9 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thiệt hại đến tính mạng sức khoẻ, tinh thần, tài sản của con người và của toàn
xã hội, gây nên khó khăn về kinh tế, tình cảm cho người bị nạn.
Như vậy tai nạn giao thông là mối đe dọa từng ngày từng giờ đối với các
chủ phương tiện, mặc dù nhà nước ta đã có nhiều biện pháp ngăn ngừa, hạn
chế tai nạn một cách tích cực song vẫn không thể tránh khỏi. Khi tai nạn xảy
ra thì việc giải quyết hậu quả thường phức tạp, kéo dài, cho dù nhà nước có
quy định rõ chủ phương tiện phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức
khoẻ, tính mạng và tài sản do việc lưu hành xe của mình gây ra theo nguyên
tắc “gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu”.
Phần lớn các vụ tai nạn xảy ra đều được bồi thường theo thoả thuận
giữa chủ phương tiện và người bị hại nên dẫn đến nhiều khúc mắc trong việc
bồi thường (hoặc bồi thường không xứng đáng hoặc bồi thường không đúng
thiệt hại thực tế), có những vụ tai nạn chủ xe không có điều kiện để giải quyết
bồi thường, nhiều trường hợp lái xe bị chết trong vụ tai nạn đó cho nên việc
giải quyết tai nạn trở nên khó khăn hơn.
Nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị hại và giảm bớt gánh nặng cho chủ
xe BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ra đời và đáp ứng kịp
thời nhu cầu của xã hội. Chính phủ đã ban hành NĐ30/HĐBT và hiện nay
được thay bằng NĐ 115/CP/1997 “về chế độ thực hiện bảo hiểm bắt buộc
TNDS của chủ xe cơ giới”. Như vậy càng khẳng định quyết tâm của Chính
phủ thực hiện triệt để loại hình bảo hiểm này. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất
để các công ty bảo hiểm đẩy mạnh công tác bảo hiểm cho chủ xe cơ giới tại
Việt Nam.
1.2.2 Cơ sở hình thành tính bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba.
Trên thế giới hiện nay, ở các nước có ngành bảo hiểm phát triển thì hầu
hết các nghiệp vụ BH TNDS nói chung và nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ
giới đối với người thứ ba nói riêng đều được thực hiện dưới hình thức bắt
SV: Nguyễn Thị Lâm 10 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
buộc. Ở Việt Nam, theo đó tại điều 308 bộ luật này có quy định các lỗi sau
đây phát sinh trách nhiệm dân sự:
- Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghiệp vụ dân sự
thì phải chịu TNDS khi có lỗi cố ý hoặc có lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xẩy ra.
- Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi
của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải bồi thường hoặc có thể biết
trước thiệt hại sẽ xẩy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có thể gây thiệt hại,
nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Trong trường hợp phát sinh TNDS gây thiệt hại cho bên thứ ba thì người
gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thứ ba.
Điều này được quy định trong điều 307 Bộ Luật dân sự Việt Nam, cụ thể như
sau:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn
thất vật chất thực tế, tính được thành tiền cho bên vi phạm gây ra, bao gồm
tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại,
thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
- Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm
dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một
khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.
Trên tinh thần đó của luật sư, luật kinh doanh bảo hiểm ngày 22/2/2000
cũng có những quy định cụ thể về từng loại hình BH TNDS theo đó tại khoản
2 điều 8 luật kinh doanh bảo hiểm quy định:
SV: Nguyễn Thị Lâm 11 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:
a) Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, BH TNDS của người vận chuyển
hàng không đối với hành khách.
b) Bảo hiểm TNDS nghề nghiệp đối với hoạt động với hành khách.
c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm.
d) Bảo hiểm cháy nổ.
Như vậy, ở nước ta bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba được thực hiện bắt buộc theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện
bắt buộc góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội và đảm bảo quyền lợi
của mọi công dân. Ngoài ra, thực hiện bắt buộc còn góp phần nâng cao tinh
thần trách nhiệm và ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông của mọi
người dân và đặc biệt là các chủ phương tiện xe cơ giới.
1.2.3 Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối
với người thứ ba
a. Đối với chủ xe
BHTNDS của chủ xe cơ giới không chỉ đóng vai trò to lớn đối với người
bị thiệt hại mà còn đối với cả xã hội, nó là tấm lá chắn vững chắc cho các chủ
xe khi tham gia giao thông.
- Tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin, khi điểu khiển các phương tiện
tham gia giao thông.
- Bồi thường chủ động, kịp thời cho chủ xe khi phát sinh TNDS, trong
đó có lỗi của chủ xe thì công ty bảo hiểm nơi mả chủ xe tham gia ký kết bảo
hiểm tiến hành bồi thường nhanh chóng để các chủ xe phục hồi lại tinh thần,
ổn định sản xuất., phát huy quyền tự chủ về tài chính, tránh thiệt hại về kinh
tế cho chủ xe.
- Có tác dụng giúp cho chủ xe có ý thức hơn trong việc đề ra các biện
pháp hạn chế, ngăn ngừa tai nạn bằng cách thông qua bảo hiểm TNDS của
chủ xe.
SV: Nguyễn Thị Lâm 12 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị
nạn. Đây là mục đích cao cả trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe đối
với người thứ ba.
b. Đối với người thứ ba
- Thay mặt người thứ ba bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ. Vì khi chủ
xe gây tai nạn thì công ty thay mặt của xe bồi thường những thiệt hại cho nạn
nhân một cách nhanh chóng, kịp thời mà không phụ thuộc vào tài chính của
chủ xe.
- BHTNDS cũng giúp cho người thứ ba ổn định về mặt tài chính cũng
như về mặt tinh thần, tránh gây ra căng thẳng hay sự cố bất thường từ phía
người nhà nạn nhân (trong trường hợp người thứ ba bị chết).
c. Đối với xã hội
- Từ công tác giám định cũng như công tác bồi thường sau mỗi một vụ
tai nạn, công ty bảo hiểm sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây ra
rủi ro để từ đó đề ra biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất một cách hiệu quả
nhất, giảm bớt những đáng kể do hậu quả tai nạn giao thông gây ra cho mỗi
người, giảm bớt thiệt hại cho toàn xã hội. Đây là một hoạt động thể hiện
phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh".
- BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba còn làm giảm nhẹ
gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời làm tăng thu cho ngân sách cho
nhà nước. Việc đóng phí sẽ là nguồn chủ yếu để chi trả bồi thường cho người
thứ ba.
Đây là mục đích chủ yếu của nghiệp vụ của nhà nước Việt Nam, nó thể
hiện vai trò trung gian hoà giải có tính chất pháp lý của công ty bảo hiểm.
Với tư cách là một nghiệp vụ bảo hiểm, BHTNDS của chủ xe cơ giới đối
với người thứ ba vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, thể hiện tính
nhân đạo, nhân văn cao cả trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Một lần nữa
BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba lại khẳng định sự cần thiết
SV: Nguyễn Thị Lâm 13 CQ491487
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khách quan cũng như tính bắt buộc của nghiệp vụ BHTN dân sự của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba.
1.3 Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới đối với người thứ 3
1.3.1 Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm
a. Đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại hình bảo
hiểm trách nhiệm pháp lý có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự phát
sinh của chủ xe gây ra thiệt hại cho người thứ ba trong quá trình lưu hành sử
dụng xe. Người tham gia bảo hiểm ( người được bảo hiểm ) thường là chủ xe,
phần trách nhiệm dân sự của chủ xe có thể phát sinh do chủ xe hoặc do lái xe
gây ra thiệt hại. TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là trách nhiệm
hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ
ba khi xe lưu hành gây tai nạn.
TNDS ở đây bao gồm:
 Trách nhiệm liên quan quyền sở hữu tài sản. Do đặc điểm của chủ xe
cơ giới là sử dụng động cơ và chuyển động với vận tốc cao nên tự bản thân nó
có thể gây ra tai nạn và làm thiệt hại cho người thứ ba mà không phải do lỗi
của chủ xe hay lái xe. Tuy nhiên với tư cách là chủ sở hữu, chủ xe chịu trách
nhiệm dân sự đối với những thiệt hại đó.
 Trách nhiệm dân sự phát sinh từ trách nhiệm phải điều khiển xe an
toàn, không có những hành vi sơ suất gây thiệt hại cho người thứ ba.
Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước. Chỉ khi nào việc
lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với
người thứ ba thì đối tượng này mới được xác định cụ thể. Điều kiện phát sinh
trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:
 Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khỏe
của bên thứ ba.
SV: Nguyễn Thị Lâm 14 CQ491487

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét