Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chưong III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN LÁNG HẠ.
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 5 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1- Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng
thưong mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số
lượng ngân hàng. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ từ người bán rau
quả tới người kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản
phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ. Khi kinh doanh và người tiêu dùng
phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá dịch vụ, họ thường sử dụng séc,
thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập
kế hoạch tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã
hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò thủ quỹ cho toàn xã
hội. Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu quan trọng của nhiều hộ gia đình.
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh té, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ
nhằm ổn định kinh tế. Vậy nói một cách ngắn gọn ngân hàng là gì?
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và
cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiền huy động được của người gửi gọi là
tài sản nợ của ngân hàng. Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng như tiền
gửi ở các ngân các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 6 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tài sản có của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động và được và
số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có của
ngân hàng thương mại. Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề
phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ
của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại: Vốn
cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm
vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia cộng với các quỹ dự trữ được lập
trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của ngân hàng như quỹ dự trữ bổ sung vốn
điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2 về cơ bản
bao gồm: Phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của Ngân hàng, nguồn
vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài và dự phòng chung cho rủi ro tín
dụng. Trên đây chỉ là định nghĩa cơ bản nhất về ngân hàng bởi trên thực tế
hiện nay rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng
khoán, công ty môi giớ chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng
đầu đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại ngân hàng
đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp
dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo
hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
a- Mua bán ngoại tệ
Một trong những hoạt động ngân hàng đầu tiên là thực hiện trao
đổi( mua bán ) ngoại tệ- một ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này,
chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác chẳng hạn JPY và hường phí dịch vụ.
Sự trao đổi đó rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận
tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia mà họ đến.
Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do ngân
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 7 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng lớn thực hiện vì những giao dịch như vậy có rủi ro cao, đồng thời yêu cầ
phải có trình độ chuyên môn cao.
b- Nhận tiền gửi
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
mọi cách để huy động được nhiều tiền nhằm cho vay lại. Một trong những
nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi như tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết
kiệm của các cá nhân hộ gia đình và các doanh nghiệp. Để có thể thu hút
được các cá nhân hộ gia đình và các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng
mình các ngân hàng đã trả lãi cho các khoản tiền gửi và tạo ra các dịch vụ tiện
ích khác cho người gửi tiền và đây cũng chính là công cụ để các ngân hàng
cạnh tranh với nhau trong việc thu hút tiền gửi. Trong lịch sử đã có những kỷ
lục về lãi suất chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm
để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở
Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm. Tóm lại một
ngân hàng muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải tìm cách để thu hút nguồn
tiền gửi vào ngân hàng vì vậy có thể nói nhận tiền gửi là một trong những
hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thương mại.
c- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thưong mại là một trong những hoạt
động truyền thống của ngân hàng thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân
hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người
bán. Người bán bán các khoản nợ( khoản phải thu ) của khách hàng cho ngân
hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang
cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ
xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
d- Bảo quản vật có giá
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 8 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vật có giá như vàng bạc đá quý … và ngay từ thời trung cổ các ngân
hàng đã thực hiện việc lưu giữ vật có giá cho khách hàng. Khi lưu giữ các vật
có giá ngân hàng sẽ ký phát cho khách hàng một loại giấy biên nhận và giấy
biên nhận này sẽ được lưu hành như tiền và đó chính là hình thức đầu tiên của
séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vậy có giá cho khách hàng
thường do phòng bảo quản của ngân hàng thực hiện.
e- Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Chính phủ các nước vẫn thường có tình trạng có những thời điểm thu
không đủ chi tức lá thâm hụt ngân sách và chính phủ phải tìm cách cân bằng
ngân sách mà một trong những cách đó là tìm đến các ngân hàng. Nếu ngân
hàng nào đó không muốn cho chính phủ vay vì rủi ro lớn thì chính phủ có thể
dùng một số đặc quyền của mình để buộc các ngân hàng phải cho vay
f- Cung cấp các tài khoản giao dịch
Cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ đã làm cho nền
kinh tế thế giới thay đổi một cách mạnh mẽ và cùng với sự phát triển đó trong
lĩnh vực ngân hàng cũng đánh dấu một bước phát triển mới bằng sự ra đời
những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trọng
nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch một tài
khoản cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và
dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong
những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng vì nhờ nó mà
quá trình thanh toán trong kinh doanh được cải thiện làm cho các giao dịch
trong kinh doanh dễ dàng hơn, nhanh chóng và an toàn hơn
h- Các hoạt động khác
Ngoái các hoạt động đã được đề cập trên ngân hàng còn hoạt động trên
các lĩnh vực khác như bán dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các kế hoạch hưu trí,
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 9 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ tương hỗ và
trợ cấp.
1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1. Các hình thức cho vay phân theo hình thức cấp tín dụng
1.2.1.1.Chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng
hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người hưởng thụ)
có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua( hoặc người phải trả )
nhưng trong trường hợp người bán đang cần tiền mà vẫn chưa đến hạn người
mua trả tiền thì họ có thể mang đến ngân hàng để xin được chiết khấu khấu
trước hạn.
Số tiền ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu, thời hạn
chiết khấu và lệ phí chiết khấu.
Bên cạnh áp dụng lãi suất chiết khấu (thường chung cho các loại thương
phiếu), ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí chiết khấu
đối với những trường hợp cụ thể có liên quan đến rủi ro và chi phí đòi tiền.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa
ngân hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách,
ngân hàng thường ký với khách hợp đồng chiết khấu (cấp cho khách hàng hạn
mức chiết khấu trong kỳ). Khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ cần gửi thương
phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngần hàng sẽ kiểm tra chất lượng của
thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả
tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao (trừ trường
hợp ngân hàng ký miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn nữa, ngân hàng
thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng Nhà nước để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn được coi
là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng- có tính thanh khoản cao)
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 10 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.1.2 Cho vay
a. Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù
hợp về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa
vào dự đoán ngân quỹ song không chính xác Thấu chi là hình thức tín dụng
ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể
cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng vài tháng trong
năm. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời. ví dụ như những người
đi du lịch trước khi đi du lịch họ có thể xin thấu chi để trong chuyến đi đề
phòng những khoản chi bất thường hoặc khi họ muốn đi tiếp đến một địa
điểm du lịch khác mà chưa xác đ ịnh trước
Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm
chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu
chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ
gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Số lãi phải trả= lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi* Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ
sử dụng hình thức này.
b. Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay trong đó mỗi lần vay
đối với một khách hàng được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau. Hình
thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có nhu cầu vay vốn
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 11 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ
khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức
là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ
sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay,
xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu
cầu đảm bảo nếu cần.
Số
lượng
cho vay
= Nhu cầu
vốn cho sản
xuất kinh
doanh
- Vốn chủ sở
hữu tham gia
- Các
nguồn vốn
khác tham
gia
Trong đó:
Nhu cầu
vốn cho sản
xuất kinh
doanh
= Nhu cầu vốn đầu tư
cho TSLĐ và TSCĐ
- Giá trị tài sản và chi
phí không thuộc đối
tượng tài trợ của NH
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng
cho vay
= Giá trị tài
sản đảm bảo
x Tỷ lệ cho vay trên
giá trị tài sản đảm bảo
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục
đích và hiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng
sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả
nổi theo thời điểm tính lãi.
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 12 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
c. Cho vay theo hạn mức
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức tín dụng của ngân hàng
theo đó ngân hàng sẽ thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn
mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Có nghĩa là khách hàng có
thể vay, trả đối với ngân hàng nhiều lần trong kỳ nhưng không được vay quá
hạn mức mà ngân hàng đã cấp cho khách hàng.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay của khách hàng. Ngân hàng sẽ ước lượng và đưa
ra hạn mức tín dụng đối với các khách hàng
Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ. Dư nợ trong
kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trở nợ để
giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức.
Cho vay theo hạn mức cũng là một hình thức tín dụng đơn giản đối với
khách hàng tạo điều kiện cho những khách hàng có nhu cầu về vốn thường
xuyên để tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng
nó như là vốn lưu động do ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ khi
khách hàng cần thì sẽ vay và khi khách hàng có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ.
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp
các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau
khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền
cho khách hàng.
Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể
nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ
có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu
không giảm sút.
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 13 -

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
d. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý,
người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả
thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp
hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được sử dụng trong
một năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để
ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay
nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình
hình tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán
dòng ngân quỹ trong thời gian tới.
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi
khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán.
Theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ,
đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng
đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất
định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các
khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho
vay. Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Nguyễn Hồng Chính Lớp: Ngân hàng 45C
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét