Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần que hàn điện Việt Đức


Phân loại chi phí là việc sắp xếp CPSX vào từng loại, từng nhóm khác nhau
theo những tiêu thức nhất định.
* Phân loại CPSX theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
Theo cách phân loại này, CPSX chia thành 3 loại:
- Chi phí sản xuất kinh doanh: Bao gồm những chi phí có liên quan đến hoạt
động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh.
- Chi phí hoạt động tài chính: Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt
động về vốn và đầu t tài chính.
- Chi phí bất thờng: Bao gồm những chi phí ngoài dự kiến nh chi phí về
thanh lý, nhợng bán TSCĐ
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác, phục vụ
cho việc tính toán giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạt động
kinh doanh đúng đắn, cũng nh lập báo cáo tài chính nhanh chóng, kịp thời.
* Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí :
Nhằm phục vụ cho việc tập hợp CPSX và quản lý chi phí theo nội dung
kinh tế của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh chi phí,
ngời ta tập hợp những chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế thành một
nhóm. Theo chế độ kế toán hiện hành, CPSX đợc chia làm 5 yếu tố sau đây:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào
mục đích sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo.
- Yếu tố chi phí tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng ( chi phí nhân công):
Bao gồm toàn bộ các khoản phải trả cho ngời lao động trong lĩnh vực sản xuất
của doanh nghiệp nh tiền lơng, các khoản trích theo lơng (BHXH, BHYT,
KPCĐ), các khoản trợ cấp, phụ cấp cho công nhân và nhân viên quản lý phân
xởng.
- Yếu tố chi phí KHTSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao phải trích trong kỳ
của tất cả các TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp
phải trả cho các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh tiền điện, nớc, điện thoại và các dịch vụ
khác.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
cha đợc phản ánh vào các yếu tố tiêu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Cách phân loại này cho biết đợc kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí
sản xuất để phân tích, đánh giá các chỉ tiêu và tình hình thực hiện dự toán chi
phí sản xuất, làm căn cứ để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho
yêu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp và lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ
sau.
* Phân loại CPSX theo khoản mục:
Theo cách phân loại này CPSX đợc chia thành 3 loại chính:
- CPNVLTT: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu( kể cả nửa thành
phẩm mua ngoài), vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất, chế
tạo SP.
- CPNCTT: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền lơng, phụ cấp và các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lơng của CNTTSX theo quy định.
- CPSXC: Là những chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất
chung tại bộ phận sản xuất( phân xởng, tổ đội ). CPSXC bao gồm:
+ CPNVPX: Gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp và các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ trên tiền lơng của NVPX.
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung nh vật liệu
dùng để sửa chữa, bảo dỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng phục vụ cho nhu cầu
quản lý chung ở các phân xởng.
+ Chi phí CCDC: Phản ánh chi phí CCDC dùng cho nhu cầu sản xuất
chung ở các phân xởng: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

+ Chi phí KHTSCĐ: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao của
TSCĐHH, TSCĐVH, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở các phân xởng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm những chi phí về lao vụ, dịch vụ
mua ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung của phân xởng, tổ đội
(điện, nớc, điện thoại)
+ Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các
khoản chi phí trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng, tổ đội.
Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức độ phân bổ chi
phí cho từng đối tợng. Nó có tác dụng phục vụ cho nhu cầu quản lý CPSX theo
định mức, là cơ sở cho kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm theo khoản
mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức
chi phí cho kỳ sau.
* Phân loại CFSX theo chức năng trong sản xuất kinh doanh:
Bao gồm 3 loại:
- Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: Gồm những chi phí phát sinh liên
quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm
vi phân xởng.
- Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: Bao gồm tất cả những chi phí có
liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí thực hiện chức năng quản lý: Bao gồm những chi phí quản lý
kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp.
Cách phân loại này làm cơ sở để xác định giá thành công xởng, giá thành
toàn bộ, xác định giá trị hàng hoá tồn kho, phân biệt đợc chi phí theo từng chức
năng cũng nh làm căn cứ để kiểm soát và quản lý chi phí.
*Phân loại theo ph ơng pháp tính nhập chi phí vào giá thành:
Chi phí theo cách phân loại này chia làm hai loại:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

- Chi phí trực tiếp: Là toàn bộ những chi phí có thể tính trực tiếp vào giá
thành của từng đối tợng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là tất cả những chi phí có liên quan đến nhiều sản
phẩm, nhiều công việc (đối tợng khác nhau). Vì vậy, để tính vào chỉ tiêu giá
thành không thể tập hợp trực tiếp mà phải dùng phơng pháp phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phơng
pháp tập hợp CPSX và phân bổ CPSX một cách đúng đắn và hợp lý.
*Phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí:
Bao gồm 2 loại chi phí:
- Chi phí sản phẩm: Là chi phí gắn liền với sản phẩm sản xuất ra hoặc đợc
mua trong kỳ để bán lại. Chi phí sản phẩm là những chi phí nh nguyên vật liệu
trực tiếp, lao động trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Nh vậy, chi phí sản phẩm
luôn gắn liền với sản phẩm và chỉ thu hồi khi sản phẩm tiêu thụ còn khi sản
phẩm cha đợc tiêu thụ thì chúng nằm trong sản phẩm tồn kho.
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ kinh
doanh nào đó, hay còn gọi là chi phí phát sinh (CPBH, CPQLDN). Chi phí thời
kỳ không phải là những chi phí tạo thành thực thể sản phẩm hay nằm trong các
yếu tố cấu thành giá vốn của hàng hoá mua vào. Nó là những khoản chi phí
hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm hoặc mua hàng hoá.
*Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:
Bao gồm 3 loại :
- Biến phí: Là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến
động về mức độ hoạt động của khối lợng công việc và sản phẩm hoàn thành.
Biến phí thờng bao gồm các khoản chi phí nh: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí lao động trực tiếp.
- Định phí: Là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi. Định phí thờng bao gồm các khoản chi phí: chi phí khấu hao TSCĐ,
chi phí thuê nhà xởng, lơng nhân viên phân xởng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả chi phí biến đổi
và chi phí cố định.
Ngoài những cách phân loại trên, trong quá trình nghiên cứu ta có thể gặp
một số cách phân loại chi phí khác nh phân loại theo chức năng kiểm soát bao
gồm chi phí kiểm soát đợc và chi phí không kiểm soát đợc, phân loại theo mức
độ phù hợp gồm chi phí thích đáng và chi phí không thích đáng.
Trong quản lý kinh doanh, nếu chỉ hiểu đợc một mặt, hoặc một phần của
vấn đề thì rất khó khi đa ra các quyết định quản lý. Trong công tác quản lý chi
phí và tính giá thành sản phẩm cũng vậy, yếu tố CPSX chỉ là một mặt. Chi phí
chi ra phải đợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai, cũng là mặt
cơ bản của sản xuất, đó là kết quả thu đợc sau quá trình sản xuất. Quan hệ so
sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Vậy phải hiểu nh thế
nào cho đúng và đầy đủ khái niệm cũng nh các mối quan hệ của giá thành sản
phẩm? Sau đây ta sẽ tiến hành nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.
1.1.2. Giá thành sản phẩm:
1.1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản
phẩm lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nhằm phản ánh về
chất lợng hoạt động của doanh nghiệp trên tất cả các mặt nh kinh tế, kỹ thuật tổ
chức, chất lợng và hiệu quả của công việc quản lý, sử dụng vật t, lao động, tiền
vốn của doanh nghiệp, đồng thời giá thành còn là cơ sở để doanh nghiệp xác
định giá bán của sản phẩm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.2.2.Phân loại giá thành:
Qua những phân tích ở trên, ta thấy việc quản lý và lập kế hoạch giá thành
là rất quan trọng. Để đáp ứng những yêu cầu đó và để công tác tính giá thành
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

đợc thuận lợi, nhà quản lý phải phân loại giá thành theo các tiêu thức khác
nhau.
*Nếu căn cứ vào góc độ quản lý giá thành, thời gian và cơ sở số liệu để
tính giá thành:
Giá thành đợc chia làm 3 loại:
- Giá thành KH: Là giá thành đợc tính toán trên cơ sở giá thành thực tế kỳ
trớc và các định mức, các dự toán chi phí kỳ KH. Giá thành KH thờng đợc tính
toán trớc khi bắt đầu tiến hành quá trình sản xuất.
- Giá thành định mức: Là giá thành đợc tính toán trên cơ sở các định mức
và dự toán chi phí hiện hành đã đợc xây dựng trong khoảng thời gian nhất định.
Giá thành định mức cũng đợc xây dựng trớc khi bắt đâù một quá trình sản xuất,
nhng khác với giá thành KH, giá thành định mức luôn luôn thay đổi để phù hợp
với sự thay đổi của các định mức hao phí trong quá trình thực hiện KH.
- Giá thành thực tế: Là giá thành đợc tính toán sau khi đã hoàn thành việc
chế tạo sản phẩm, đợc xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh và sản l-
ợng thực tế đã diễn ra sau quá trình sản xuất. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
nhằm phản ánh về chất lợng của tất cả các hoạt động của doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
* Nếu căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí:
Giá thành sản phẩm đợc chia làm hai loại:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xởng): Là chỉ tiêu phản ánh những
CPSX phát sinh trong quá trình chế tạo sản phẩm ở phạm vi phân xởng gồm
CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC cho các sản phẩm và lao vụ đã hoàn thành, vì thế
giá thành sản xuất còn có tên gọi là giá thành công xởng.
- Giá thành tiêu thụ( Giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giá
thành tiêu thụ vì vậy còn đợc gọi là giá thành đầy đủ hoặc giá thành toàn bộ.
Công thức tính nh sau:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

1.1.2.3.Bản chất, chức năng của giá thành:
* Bản chất của giá thành: Nói đến bản chất của giá thành sản phẩm tức là
nói đến nội dung kinh tế chứa đựng bên trong của chỉ tiêu giá thành. Điểm qua
lịch sử về lý luận giá thành, ta có thể thấy bản chất của giá thành thông qua các
quan điểm sau:
- Quan điểm cho rằng giá thành là sự hao phí lao động sống và lao động
vật hoá đợc dùng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hoặc một khối lợng sản
phẩm nhất định.
- Quan điểm cho rằng giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận
nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm.
- Một quan điểm khác cho rằng giá thành là biểu hiện mối liên hệ tơng
quan giữa một bên là chi phí sản xuất, một bên là kết quả đạt đợc trong từng
giai đoạn nhất định.
Ta có thể rút ra kết luận về bản chất của phạm trù giá thành nh sau: Bản
chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào sản
phẩm, công việc lao vụ nhất định đã hoàn thành. Nếu cha có sự dịch chuyển này
thì không thể nói đến chi phí và giá thành sản phẩm. Trong điều kiện nền kinh
tế thị trờng, giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ các khoản hao phí vật chất
thực tế cần thiết đợc bù đắp, bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành giá trị
sản phẩm.
Hạch toán giá thành chính là tính toán, xác định sự chuyển dịch các yếu tố
vật chất vào khối lợng sản phẩm vừa thoát ra khỏi quá trình sản xuất và tiêu thụ
nhằm mục đích thực hiện các chức năng của giá thành sản phẩm.
* Chức năng của giá thành:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giá thành toàn bộ của
sản phẩm tiêu thụ
=
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
+ CPBH + CPQLDN

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, tổng hợp. Nó phản ánh
chất lợng hoạt động của công tác sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là
công cụ quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất.
Nhằm có căn cứ xem xét tính chất quan trọng của chỉ tiêu giá thành trong công
tác quản lý kinh tế, cần nghiên cứu các chức năng vốn có của chỉ tiêu giá thành.
- Chức năng thớc đo bù đắp chi phí: Giá thành sản phẩm biểu hiện những
hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Những hao phí vật chất này cần đợc bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm
bảo yêu cầu tái sản xuất và đây đã trở thành một vấn đề quan tâm đầu tiên của
các doanh nghiệp bởi hiệu quả kinh tế đợc biểu hiện trớc hết ở chỗ doanh
nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp là khởi
điểm của hiệu quả và là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Chức năng lập giá: Giá cả SP đợc xây dựng trên cơ sở hao phí lao động
xã hội cần thiết, biểu hiện mặt giá trị SP. Khi xây dựng giá cả thì yêu cầu đầu
tiên là giá cả có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thờng có
thể bù đắp đợc hao phí để thực hiện quá trình tái sản xuất. Để thực hiện đợc yêu
cầu bù đắp hao phí vật chất thì khi xây dựng giá cả phải căn cứ vào giá thành
SP. Việc đa ra các định mức hao phí trong giá thành SP có ý nghĩa rất tích cực
khi sử dụng giá thành làm căn cứ để lập giá.
- Chức năng đòn bẩy kinh tế: Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp
phụ thuộc trực tiếp vào giá thành SP, hạ giá thành SP là biện pháp cơ bản để
tăng cờng doanh lợi tạo nên tích luỹ để tái sản xuất mở rộng. Phấn đấu hạ thấp
giá thành bằng các phơng pháp cải tiến tổ chức sản xuất và quản lý, hoàn thiện
công nghệ sản xuất, tiết kiệm CPSX là hớng cơ bản để các doanh nghiệp đứng
vững và phát triển trong điêù kiện nền kinh tế có cạnh tranh. Cùng với phạm trù
kinh tế khác nh giá cả, lãi, chất lợng, giá thành SP thực tế đã trở thành đòn bẩy
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cờng hiệu quả kinh doanh
phù hợp với nguyên tắc hạch toán kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trờng.
Hơn nữa, trong sản xuất kinh doanh, giá thành là chỉ tiêu phản ánh giới
hạn chi phí để tính toán, lựa chọn những phơng án sản xuất tối u, do vậy trong
hạch toán kinh tế cần tính đúng, tính đủ giá thành dựa trên cơ sở khách quan.
Về lý luận cũng nh trên thực tế, giá thành SP không chấp nhận tất cả các CPSX
mà chỉ chấp nhận những chi phí cần thiết trong sản xuất. Đây là một trong
những đặc điểm quan trọng của giá thành mà khi tính toán, ngời làm công tác
quản lý cần nắm rõ.
Nh vậy, chúng ta đều thấy đợc chi phí, giá cả, giá thành, lợi nhuận là
những phạm trù kinh tế khách quan. Chúng tồn tại gắn liền với sự tồn tại của
quan hệ hàng hoá - tiền tệ và là đòn bẩy kinh tế quan trọng của quản lý kinh tế,
đồng thời chúng hợp thành một hệ thống thống nhất có mối quan hệ mật thiết
và tác động qua lại lẫn nhau trong nền kinh tế quốc dân. Sau đây ta xem xét cụ
thể mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP.
1.1.3. Mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP:
CPSX và giá thành SP là hai chỉ tiêu có quan hệ mật thiết với nhau, thể
hiện ở hai mặt:
- Xét về mặt nội dung: Giá thành SP sản xuất đợc tính trên cơ sở CPSX đã
tập hợp và số lợng SP hoàn thành trong kỳ báo cáo. Nội dung giá thành SP là
CPSX đợc tính cho số lợng và cho loại SP.
- Xét về mặt kế toán: Kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành SP phân x-
ởng là hai bớc công việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau. Tuy nhiên, giữa
CPSX và giá thành SP cũng có sự khác nhau rõ rệt. CPSX và giá thành SP đều là
hao phí lao động sống và lao động vật hoá nhng tính trong chỉ tiêu giá thành SP
thì chỉ tính những hao phí cho SP hoàn thành trong kỳ. Nếu CPSX và giá thành
SP giống nhau về chất thì chúng lại khác nhau về lợng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Trên thực tế, tổng CPSX phát sinh trong kỳ và tổng giá thành thờng không
thống nhất với nhau là vì CPSXDD đầu, cuối kỳ trong một kỳ thờng khác nhau.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP qua sơ đồ sau:

Qua sơ đồ trên ta thấy: AC = AB + BD - CD, hay:
Khi giá trị SPDD( CPSXDD) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành
sản xuất không có SPDD thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng CPSX phát sinh
trong kỳ.
Tóm lại, CPSX và giá thành SP có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau,
mối quan hệ này phản ánh tác động tích cực của công việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật và khoa học quản lý vào sản xuất, nên muốn đạt đợc thành công trong
quá trình quản lý sản xuất phải đa ra những nguyên tắc kinh tế - kế toán vào
công tác quản lý chi phí và tính giá thành SP.
1.2. Đối tợng tập hợp CPSX và đối tợng tính giá thành:
1.2.1. Đối tợng tập hợp CPSX:
CPSX phát sinh trong các DNSX bao gồm nhiều loại, mỗi loại mang một
nội dung kinh tế, công dụng khác nhau và phát sinh tại những địa điểm và thời
gian khác nhau. CPSX phát sinh sẽ đợc tập hợp theo những địa điểm phát sinh
chi phí hoặc theo một phạm vi, giới hạn nào đó. Nh vậy, việc xác định đối tợng
hạch toán CPSX chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
A CPXS dở dang đầu kỳ B CPSX phát sinh trong kỳ D
A Tổng giá thành sản phẩm C CPSX dở dang cuối kỳ D
Tổng giá thành
SP hoàn thành
=
CPSXDD
đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSXDD
cuối kỳ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét