Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG
STT Tên
Biểu số 1
Một số chỉ tiêu về KQ hoạt động của công ty CPDP Hà Nội
những năm gần đây
2 Lệnh xuất kho
3 Phiếu xuất kho
4 Phiếu sản xuất
5 Phiếu xuất kho số 696 kho 021
6 Phiếu xuất kho số 696 kho 04
7 Phiếu xuất kho số 696 kho 03
8 Phiếu sản xuất kiểm soát 11
9 Phiếu sản xuất kiểm soát 10
10 Bảng kê phiếu xuất
11 Sổ chi tiết TK 621
12 Nhật ký chung
13 Sổ tổng hợp TK 621
14 Đơn giá lương khoán sản phẩm
15 Phụ cấp thu hút
16 Tiền bồi dưỡng ca 3
17 Phụ cấp thu hút nghề nghiệp
18 Tiền bồi dưỡng độc hại
19 Tiền lương nghiên cứu
20 Phân bổ lương và các khoản trích, nộp theo lương
21 Sổ chi tiết TK 622
22 Sổ tổng hợp TK 622
23 Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ
24 Bảng theo dõi và tính khấu hao TSCĐ
25 Sổ chi tiết TK 627
26 Sổ tổng hợp TK 627
27 Báo cáo sản phẩm dở dang đầu kỳ
28 Báo cáo sản phẩm dở dang cuối kỳ
29 Sổ chi tiết TK 1541
30 Sổ chi tiết TK 1549
31 Sổ tổng hợp TK 1541
32 Sổ tổng hợp TK 1549
33 Bảng tính giá thành
34 Thẻ giá thành
Lưu Thị Phương Thúy 5 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu tồn tại và phát triển, lợi nhuận cao là vấn đề mà hầu hết tất cả các
doanh nghiệp đều quan tâm và các nhà quản trị doanh nghiệp luôn hướng tới những biện
pháp tổ chức và quản lý để đạt được mục tiêu đó. Một trong các kênh cung cấp thông tin
cho quá trình giám sát và ra quyết định của nhà quản lý là kênh thông tin kế toán, do đó
công tác hạch toán kế toán giữ vai trò quan trọng trong phản ánh quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế như chi phí sản xuất, giá thành
sản phẩm, tốc độ lưu chuyển vốn lưu động…
Đối với hầu hết các doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là
những yếu tố quan trọng tác động đến chính sách giá cả, kết quả hoạt động kinh doanh
cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Hơn nữa, các thông tin về chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm là những thông tin quan trọng và chủ yếu của các doanh
nghiệp sản xuất nói riêng. Thông qua các thông tin đó các nhà quản lý doanh nghiệp
phân tích và đánh giá được tình hình sử dụng, tập hợp, quản lý chi phí sản xuất của công
ty để từ đó có những biện pháp phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất cũng
như kinh doanh và từ đó có hướng điều chỉnh phù hợp với tình hình hoạt động của
doanh nghiệp nhằm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Tùy vào đặc điểm, tình hình
cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà có những phương pháp khác nhau nhưng về cơ bản để
tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm hoặc doanh nghiệp sử dụng những
giải pháp nhằm cải tiến kỹ thuật, áp dụng các quy trình công nghệ hiện đại hoặc áp dụng
các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất đúng và đầy đủ, tính toán chính xác giá thành
sản phẩm. Việc áp dụng các phương pháp tập hợp và tính chi phí sản xuất đúng đắn góp
phần cải thiện tình hình chi phí của doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu lý luận và những thực tế tìm hiểu được qua thời gian thực tập tại
công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội, em đã nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của công
tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ công tác hạch toán cũng
như đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Với mục đích hoàn thiện hơn nữa kiến thức
của mình và hiểu rõ thực tế trên cơ sở lý thuyết đã nghiên cứu em đã lựa chọn đề tài :
“Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Để thể hiện rõ
về mặt lý luận và minh họa thực tế trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
Lưu Thị Phương Thúy 6 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghiệp mà cụ thể cho công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội, ngoài mục lục, lời mở đầu
và kết luận luận văn có kết cấu gồm ba phần như sau:
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp
Phần II: Thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội
Phần III: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội
Em xin chân thành cảm ơn TS. Trần Thị Nam Thanh cùng các cán bộ nhân viên
phòng kế toán công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em
hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Do kiến thức còn hạn chế và thời gian tìm hiểu thực
tế chưa nhiều nên không tránh khỏi sự sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của
thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Lưu Thị Phương Thúy 7 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
I. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp
1. Chi phí sản xuất
1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp giữa các yếu tố tư liệu lao động,
đối tượng lao động và sức lao động và đồng thời là quá trình tiêu hao các yếu tố đó. Để
tiến hành sản xuất, người sản xuất phải bỏ chi phí thù lao về lao động, chi phí về tư liệu
lao động và đối tượng lao động.
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Đó là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch
giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá.
Cần có sự phân biệt giữa chi phí và chi tiêu. Chi phí là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cần thiết cho quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh. Còn chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền
vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng cho mục đích gì. Do đó, chi tiêu là cơ sở
phát sinh, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Về mặt giá trị tổng chi tiêu trong kỳ đã bao gồm chi phí sản xuất trong đó, tổng
số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua
sắm vật tư, hàng hóa…), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất,
chế tạo sản phẩm, công tác quản lý…) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển,
bốc dỡ, quảng cáo…) còn tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ
giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ
này.
Về mặt thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi
phí (chi phí mua nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản
tính vào chi phí này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước). Sự khác nhau của
đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản
Lưu Thị Phương Thúy 8 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vào quá trình sản xuất và yêu cầu hạch toán đã dẫn đến sự khác biệt giữa chi phí và chi
tiêu.
1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất có nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau về nội dung, tính chất,
công dụng, vai trò, vị trí… Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, xuất phát từ
mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất được phân loại theo những
tiêu thức khác nhau, sắp xếp chi phí sản xuất theo từng loại, từng nhóm khác nhau.
Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Nếu căn cứ vào yếu tố chi phí theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi
phí được chia làm 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,… sử dụng vào sản xuất kinh
doanh
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức.
- Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: phản ánh
phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định trên
tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố
định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong
kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ dịch vụ mua ngoài dùng
vào sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại trên nhằm phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội
dung kinh tế ban đầu đồng nhất mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh
của chi phí. Thực chất các loại chi phí trên đều thuộc ba yếu tố chi phí là chi phí về lao
động sống, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động. Tuy nhiên để
cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn các yếu tố chi phí còn được chi tiết
Lưu Thị Phương Thúy 9 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hóa theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng và tùy theo yêu cầu và trình độ quản lý của
mỗi nước, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau.
Thông qua việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, ta biết được những chi phí
nào sử dụng vào quá trình sản xuất sản phẩm, biết được cơ cấu từng yếu tố chi phí trong
tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, làm cơ sở để xây dựng dự toán chi phí sản xuất,
xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp. Việc phân loại chi phí sản xuất theo
yếu tố còn là tài liệu quan trọng để xác định mức tiêu hao vận chuyển, tính thu nhập
quốc dân và lập thuyết minh báo cáo tài chính.
Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Xuất phát từ vai trò của chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm và để thuận
tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục. Cách phân
loại này dựa trên công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng.
Hiện nay, giá thành sản phẩm ở Việt Nam bao gồm các khoản mục chi phí:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực
hiện lao vụ, dịch vụ,
- Chi phí chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ
tiền lương phát sinh.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng
sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).
- Chi phí bán hàng: bao gồm toàn bộ những chi phí phát sịnh liên quan đến tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến
quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại trên, chi phí sản xuất kinh doanh còn được phân loại theo
nhiều cách khác nhau như:
Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm
Khi đó chi phí sản xuất được chia thành: chi phí cố định (hay định phí), chi phí
biến đổi (hay biến phí) và chi phí hỗn hợp.
Trong đó: Biến phí là những chi phí có mối quan hệ tỉ lệ thuận với sự thay đổi
của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
Lưu Thị Phương Thúy 10 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chi phí nhân công trực tiếp. Tuy nhiên biến phí tính trên một đơn vị sản phẩm thì không
đổi.
Định phí là những chi phí không thay đổi về tổng số khi tổng khối lượng sản
phẩm thay đổi. Nhưng định phí chỉ giữ nguyên trong mức độ phạm vi phù hợp, định phí
một đơn vị sản phẩm thay đổi khi sản lượng thay đổi. Các chi phí được xem là định phí
như chi phí khấu hao tài sản cố định, máy móc thiết bị, tiền lương của bộ phận nhân
viên quản lý phân xưởng…
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí vừa mang tính chất biến đổi vừa mang tính chất
cố định so với tổng khối lượng sản phẩm.
Cách phân loại trên nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch,
kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí. Cách phân loại này thường sử dụng trong kế toán
quản trị.
Phân loại chi phí theo quá trình tập hợp chi phí
Căn cứ vào quá trình tập hợp chi phí, chi phí sản xuất được chia thành chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp.
Chi phí trực tiếp là những chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất ra một
loại sản phẩm. Căn cứ vào chứng từ kế toán, kế toán có thể ghi trực tiếp chi phí này cho
từng đối tượng chịu chi phí. Ví dụ như chi phí nguyên vật liệu chính, tiền lương, các
khoản trích theo lương…
Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Khi đó
các chi phí phát sinh được tập hợp chung và cuối kỳ phân bổ cho các đối tượng chịu chi
phí theo những tiêu thức phân bổ hợp lý. Ví dụ như chi phí nhân viên quản lý phân
xưởng sản xuất, chi phí mua ngoài…
Việc phân loại đó tạo điều kiện tập hợp chi phí đầy đủ, hợp lý, quản lý tốt chi phí từ đó
phân bổ chi phí đúng đắn. Nhưng nó cũng đặt ra yêu cầu cao hơn trong quá trình hạch
toán, đòi hỏi quy trình hạch toán phải chuẩn, thích hợp do đó phức tạp hơn.
Phân loại chi phí sản xuất theo cách kết chuyển chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí
thời kỳ.
Chi phí sản phẩm là những khoản mục chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm
hay quá trình mua hàng hóa để bán và bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Chi phí này được thu hồi khi sản phẩm
Lưu Thị Phương Thúy 11 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được tiêu thụ, hàng hóa được bán ra. Nếu sản phẩm, hàng hóa chưa tiêu thụ thì chi phí
sản phẩm sẽ nằm trong mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, nếu sản phẩm được
tiêu thụ chi phí sản phẩm trên bảng cân đối kế toán sẽ trở thành trị giá vốn hàng xuất
bán trên phần I của báo cáo kết quả kinh doanh.
Chi phí thời kỳ là các chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ, không bao gồm
chi phí hàng tồn kho, loại chi phí này phát sinh làm giảm lợi nhuận của kỳ đó. Chi phí
thời kỳ gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí sản phẩm chỉ phải tính để xác định kết quả ở kỳ mà sản phẩm
được tiêu thụ, không tính ở kỳ mà chúng phát sinh và nó có thể ảnh hưởng đến lợi
nhuận của doanh nghiệp ở nhiều kỳ khác nhau. Còn chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ nào
được tính ngay vào kỳ đó và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà nó phát sinh.
Có nhiều cách phân loại chi phí sản xuất, mỗi cách có đặc điểm riêng nhưng các
cách phân loại lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tùy thuộc vào đặc điểm, nhu cầu
quản lý và hạch toán mà doanh nghiệp sử dụng cách phân loại chi phí cho thích hợp
2. Giá thành sản phẩm
2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ
đã hoàn thành.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà kế toán cần phải tiến hành tính giá thành cho các
đối tượng tính giá thành. Để xác định đúng kỳ tính giá thành cần phải căn cứ vào đặc
điểm tổ chức sản xuất và chu kỳ sản phẩm của doanh nghiệp. Việc xác định kỳ tính giá
thành hợp lý giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành kế hoạch, cung cấp kịp thời
số liệu giá thành thực tế của sản phẩm nhằm phát huy hơn nữa chức năng phản ánh và
giám đốc của kế toán đối với công tác kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành sản phẩm và kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xét dưới nhiều góc độ, phạm vi
tính toán khác nhau.
Nếu căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành thì giá thành bao gồm:
Lưu Thị Phương Thúy 12 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Giá thành kế hoạch: là giá thành được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Giá
thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu, là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch giá thành, thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành, tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp.
- Giá thành định mức: được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Trong khi giá
thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không
biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch thì giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành
định mức luôn thay đổi phù hợp với các thay đổi của các định mức chi phí đạt được
trong quá trình sản xuất.
- Giá thành thực tế: là chi tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản
phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực
tế là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức
và sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn trong việc vận dụng các giải pháp về kinh tế, tổ
chức, kỹ thuật,… để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn
cứ để nhà quản lý xem xét, định giá bán sản phẩm và xác định nghĩa vụ đóng góp cho
Nhà nước đồng thời phân chia kết quả kinh doanh.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định
được nguyên nhân vượt hay hụt định mức chi phí trong kỳ hạch toán từ đó để có biện
pháp điều chỉnh chi phí cho phù hợp.
Nếu theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành bao gồm:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí
phát sinh liên quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận
sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung.
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và
bán hàng). Giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ và
được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ =
Giá thành sản
xuất sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+
Chi phí tiêu
thụ sản phẩm
Lưu Thị Phương Thúy 13 Lớp Kế toán 44A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì
quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: hao phí sản xuất và kết
quả sản xuất. Cả chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều là biểu hiện bằng tiền của
những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế trong đó chi phí sản xuất phản ánh hao phí sản
xuất còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất.
Hơn nữa trong công tác hạch toán kế toán, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm là hai công việc liên tiếp và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí
sản xuất có thể ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Đồng thời công tác tập hợp chi phí
sản xuất chính xác, đầy đủ, một cách khoa học và hợp lý sẽ làm tăng tính chính xác của
thông tin giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những điểm khác nhau.
Về mặt thời gian, chi phí sản xuất gắn liền với một thời kỳ nhất định còn giá thành sản
phẩm liên quan đến nhiều kỳ. Về mặt giá trị, chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí
bỏ ra trong kỳ sản xuất kinh doanh không tính đến việc chi phí đó có liên quan đến khối
lượng sản phẩm đã hoàn thành hay chưa trong khi đó giá thành sản phẩm là chỉ tiêu luôn
gắn với sản phẩm hoàn thành, bao gồm những chi phí tính cho khối lượng sản phẩm
hoàn thành trong kỳ mà không tính đến chi phí đó phát sinh ở kỳ nào.
Ta có công thức thể hiện mối liên hệ giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất
như sau:
Tổng giá thành
sp hoàn thành
=
Chi phí sản
xuất DDĐK
+
Chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ (đã trừ các khoản
thu hồi ghi giảm chi phí)
-
Chi phí sản
xuất DDCK
Như vậy, nếu giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hay không
có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ. Nói một cách khác, chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản
phẩm.
Lưu Thị Phương Thúy 14 Lớp Kế toán 44A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét