Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật - người có hành vi có
lỗi phải bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt những
trách nhiệm dân sự liên quan đến những quan hệ dân sự và những chủ thể
nhất định của quan hệ dân sự đó và trách nhiệm dân sự của chủ thể, Như
vậy, không cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi
trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là do suy đoán. Nhận thức như
trên không chuẩn xác về mặt khoa học, bởi vì lỗi, hình thức lỗi đã được qui
định rất rõ và đầy đủ tại Điều 309 BLDS. Những suy diễn ngoài nội dung
Điều 309 BLDS, do vậy không cần thiết và cũng không đúng.
Lỗi - một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là
cần thiết. Vì đối với ngành Toà án khi giải quyết những tranh chấp liên
quan đến trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cần thiết phải hiểu rõ cơ sở
lý luận về lỗi để áp dụng chuẩn xác các quy phạm pháp luật về trách nhiệm
dân sự ngoài hợp đồng, qua đó đưa ra những nhận định và quyết định
chuẩn xác, đúng pháp luật.
Điều 604, BLDS 2005 quy định: “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường
cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
5
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu
là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa
vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát
sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối
với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về
trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm
đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá
nhân và tổ chức khác.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 604 BLDS quy định về căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và nghị quyết số 03/2006 hướng dẫn
áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các
điều kiện: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mỗi
quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; có lỗi của
người gây thiệt hại. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì lỗi
được coi là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
• Thiệt hại là điều kiện quan trọng trong trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
riêng bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp,
khắc phục những tổn thất đã xảy ra cho người bị thiệt hại, do đó nếu không
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
6
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
có thiệt hại thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Theo đó,
khoản 1 Điều 307 BLDS quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao
gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường
bù đắp tổ thất về tình thần” Như vậy, thiệt hại được xác định bao gồm thiệt
hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
• Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại được hiểu là những hành vi mà pháp luật cấm, không cho
phép thực hiện. Cơ sở để xác định hành vi trái pháp luật là căn cứ vào các
quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể.
• Mối quan hệ nhân quả giửa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra: đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi trái
pháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả. Về mặt
nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau.
• Có lỗi của người gây ra thiệt hại: bao gồm cả lỗi cố ý hay vô ý gây
ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
II. LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG.
1. Khái niệm lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng
Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong
đó có các luật gia đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định
thế nào là yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng. Ví dụ như: Theo học thuyết cổ
điển, lỗi định nghĩa là “một hành vi bất hợp pháp có thể quy trách nhiệm
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
7
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
cho người làm hành vi ấy”. Hoặc như luật dân sự La Mã cũng như Luật
dân sự; khoa học pháp luật dân sự của các nước Châu Âu lục địa đều
không đề cập đến trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình và
hậu quả do hành vi đó gây ra khi xác định lỗi. Mà theo Luật La Mã, lỗi
(Culpa) là sự không tuân thủ hành vi mà pháp luật yêu cầu: “Không có lỗi
nếu như tuân thủ tất cả những gì được yêu cầu”
Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, lỗi được thống nhất hiểu là là
trạng thái tâm lý của con người có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của
mình và hậu quả do hành vi đó mang lại. Việc đánh giá hình thức, mức độ
lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng nói riêng khác với trách nhiệm hình sự. Trong trách nhiệm
hình sự, hình thức và mức độ lỗi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định
tội danh và quyết định hình phạt. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải
xác định kẻ phạm tội có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Trong
khi đó, đối với trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi và
mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại. Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người
gây thiệt hại có lỗi, bất kể lỗi đó là lỗi cố ý hay lỗi vô ý.
Xung quanh vấn đề lỗi, một câu hỏi thường được đặt ra đó là: Mọi
trường hợp trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng đều tiên niệm có sự thiệt
hại, nhưng có phải mọi sự thiệt hại có đều phát sinh trách nhiệm không?
Hay sự thiệt hại đó còn cần phải do một lỗi gây ra? Về vấn đề này có hai
quan điểm: một quan điểm cố điển cho rằng phải có lỗi mới có trách
nhiệm, một quan điểm khác lại chủ trương trách nhiệm khách quan không
cần điều kiện lỗi.
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
8
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
Khuynh hướng thứ nhất: là khuynh hướng cổ điển, khuynh hướng
này đặt cơ sở của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng trên ý niệm lỗi của
người gây ra thiệt hại cho người khác. Theo đó, lỗi là một trong bốn điều
kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chỉ khi nào một người do lỗi
của mình mà gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người
khác thì mới phải bồi thường. Cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu bồi
thường là họ phải chứng minh được lỗi của người gây ra thiệt hại. Đây
cũng là quan điểm của Điều 604 BLDS: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài
sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Giá trị của khuynh hướng cổ điển khi đặt trách nhiệm trên nền tảng
lỗi là đã xác định phạm vi của tự do cá nhân: mọi người trong xã hội đều
được tự do hoạt động, sự tự do ấy chỉ bị giới hạn bởi quyền lợi của người
khác; vậy chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà xâm phạm đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường. Song trong tình
trạng kinh tế xã hội ngày nay, khuynh hướng cổ điển nhiều khi tỏ ra hạn
chế và không đáp ứng được một cách có hiệu quả quyền lợi cho nạn nhân
trong khi việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, là một đòi hỏi
cấp thiết và chính đáng. Đúng vậy, trong trường hợp thiệt hại xảy ra mà
không có ai chứng kiến, hoặc xảy ra mà không do lỗi của ai cả, nếu buộc
nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường
của nạn nhân. Ngoài ra khuynh hướng cổ điển cũng không giải thích được
trách nhiệm của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi về
các thiệt hại do họ gây ra.
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
9
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
Khuynh hướng thứ hai: đó là khuynh hướng chủ trương trách
nhiệm khách quan, không cần điều kiện lỗi. Khuynh hướng này đặt ra trách
nhiệm khách quan cho người gây ra thiệt hại, do đó, trong mọi trường hợp,
người này đều phải chịu trách nhiệm bồi thường. Khuynh hướng này cũng
không thỏa đáng vì bảo đảm sự bồi thường cho nạn nhân trong mọi trường
hợp không hẳn là một giải pháp ích lợi cho xã hội. Trên lập trường lợi ích
công cộng còn phải quan tâm đến quyền tự do hoạt động của cá nhân, nếu
thừa nhận sự bồi thường mà không đòi hỏi lỗi, mọi sự hoạt động của cá
nhân sẽ bị tê liệt vì ai nấy đều không khỏi e sợ gây thiệt hại phải bồi
thường mặc dầu không phạm lỗi.
Từ những lập luận trên, cùng với thực tế cho thấy các tai nạn mang
tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người
ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, cơ giới
hóa, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người,
để bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ nạn nhân. BLDS Việt Nam được xây
dựng trên cơ sở dung hòa cả hai khuynh hướng trên. Bên cạnh những điều
khoản quy định yếu tố lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS Việt Nam
cũng áp dụng chế định trách nhiệm khách quan đối với các thiệt hại do tác
động của các phương tiện cơ giới, của súc vật và vật vô tri thức khác. Theo
đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp có thể phát
sinh mà không cần điều kiện lỗi. Ví dụ tại Khoản 3 Điều 623 quy định là:
“Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi”. Hoặc Điều
624 quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
10
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả
trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi.”
Khi xác định lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải
phân biệt với những hành vi gây thiệt hại khác, không thuộc hành vi do lỗi
cố ý hoặc vô ý gây ra. Đó là hành vi gây thiệt hại được xác định là sự kiện
bất ngờ. Sự kiện bất ngờ được qui định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được dẫn chiếu vì điều luật này
không những được áp dụng trong lĩnh vực luật hình sự, mà còn có ý nghĩa
trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại ngoài hợp
đồng. Sự kiện bất ngờ được hiểu là sự kiện pháp lý nhưng hậu quả của nó
không làm phát sinh trách nhiệm dân sự, cụ thể là không làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi tạo ra sự kiện đó.
Đối với sự kiện bất ngờ thì người gây thiệt hại cũng không bị coi là có lỗi
vì họ không thể thấy trước, không buộc phải thấy trước hậu quả xảy ra do
hành vi của mình, vì ở đây họ không có đủ điều kiện để lựa chọn tránh sự
thiệt hại. Sự kiện bất ngờ được hiểu là sự kiện pháp lý nhưng hậu quả của
nó không làm phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi tạo ra sự
kiện đó. Cụ thể tại Điểm a và điểm b khoản 3 Điều 623 BLDS có quy định:
“a) thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, b) thiệt hại
xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.”
Ngoài ra, đối với người tâm thần, người chưa thành niên dưới 15
tuổi, hoặc người bị người khác cố ý dùng chất kích thích làm cho mất khả
năng nhận thức, không điều khiển được hành vi của mình, khi họ có hành
vi trái pháp luật mà gây thiệt hại thì cũng không bị coi là có lỗi, do đó họ
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
11
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp
này, lỗi được xem xét là lỗi của người quản lý người gây thiệt hại hoặc lỗi
của người đã cố ý dùng chất kích thích làm người khác mất năng lực hành
vi dẫn tới hậu quả gây thiệt hại của người họ. Do đó người người quản lý
người mà gây thiệt hại hoặc người đã cố ý dùng chất kích thích làm người
khác mất năng lực hành vi dẫn tới hậu quả gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
2. Các hình thức lỗi theo quy định của BLDS.
Theo quy định của pháp luật phân chia hình thức lỗi ra thành hai
loại: đó là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Vậy việc phân chia hình thức lỗi như vậy có
ý nghĩa như thế nào? Để làm rõ vấn đề này ta sẽ phân tích các hình thức lỗi
sau:
• Về lỗi cố ý, Khoản 2 Điều 308 BLDS quy định: “Cố ý gây thiệt hại
là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho
người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn,
nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”.
Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây
thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà
vấn thực hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốn
nhưng đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịu
trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình.
Về mặt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hại
luôn nhằm mục đích có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện
dưới hai mức độ:
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
12
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
- Mong muốn có thiệt hại xảy ra.
- Không mong muốn có thiệt hại, nhưng lại để mặc cho thiệt hại xảy
ra.
• Về lỗi vô ý, Khoản 2 Điều 308 BLDS quy định: “Vô ý gây thiệt
hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả
năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy
ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho
rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.” Như vậy, lỗi
vô ý biểu hiện ở việc người gây thiệt hại không thấy trước hành vi của
mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù điều kiện cho phép buộc phải
thấy trước mà vẫn thực hiện hành vi ấy vì cho rằng hậu quả đó không thể
xảy ra. Ví dụ: C là y tá, được giao nhiệm vụ phát thuốc cho B (bệnh nhân)
vào hai ca sáng và tối, một lần phát thuốc cho B do có công việc bận vào
buổi tối nên C đã đưa số thuốc cho cần phát cho B từ sáng, đến chiều có A
là cháu của B Cùng mẹ là chị H đến thăm B, A thấy vỉ thuốc trên bàn và
cho rằng đó là viên kẹo nên đã ăn hết số thuốc đó, kết quả là A bị ngộ độc
phải đưa đi cấp cứu . Như vậy trong tình huống này hành vi của C được coi
là có lỗi vô ý dẫn đến hạu quả làm cháu A bị ngộ độc, C biết rằng số thuốc
mình đưa cho C có thể biết là rất nguy hiểm nếu người khác, (cụ thể là A)
ăn phải có thể gây độc cho họ nhưng vì tin tưởng rằng B sẽ cất kỹ số thuốc
đó nên không thể gây hại cho người khác. Vậy trong tình huống này C phải
chịu trách nhiệm với hành vi của mình gây ra cho A.
Đối với lỗi vô ý, tùy theo mức độ trầm trọng của nó, cũng có thể
phân chia thành lỗi nặng, lỗi nhẹ, lỗi rất nhẹ như trong trường hợp trách
nhiệm hợp đồng, nhưng đối với trách nhiệm ngoài hợp đồng, sự phân biệt
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
13
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
này không có lợi ích gì trên thực tế, vì trên nguyên tắc một lỗi rất nhẹ cũng
đủ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Lỗi vô ý hay lỗi cố ý cần được xem xét trên các căn cứ như thời
gian, địa điểm, điều kiện, diễn biến của sự việc, căn cứ vào sự hiểu biết xã
hội, nghiệp vụ chuyên môn của người có hành vi gây thiệt hại từ đó kết
luận người gây thiệt hại có nhận thức được hành vi của mình hay không và
buộc phải nhận thức được hay không. Khác với cách giải quyết trong trách
nhiệm hình sự dù đối với lỗi vô ý hay lỗi cố ý thì người gây thiệt hại vẫn
phải chịu trách nhiệm dân sự. Trong trách nhiệm hình sự lỗi vô ý gây thiệt
hại nhỏ thì không phải truy cứu trách nhiệm hình sự, còn trong trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì không vì sự cố ý hay vô ý của
người gây thiệt hại mà xét họ có phải bồi thường hay không hoặc là xét ở
mức độ tăng hay giảm mà ở đây chỉ xem xét mức độ giảm bồi thường được
quy định ở khoản 2 Điều 605 BLDS.
3. Ý nghĩa của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng.
Ta nhận thấy rằng, mặc dù Điều 308 BLDS chia “lỗi” thành hai hình
thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý nhưng hầu như ý nghĩa của sự phân chia này
không được thể hiện trong các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, trừ Điều 615 có nhắc đến lỗi cố ý của người dùng rượu hoặc các chất
kích thích khác làm cho người khác lầm vào tình trạng mất khả năng nhận
thức và điều khiển hành vi của mình mà gây thiệt hại là căn cứ để xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên đối với mọi trường hợp bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại BLDS, việc phân
định lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý ảnh hưởng đến mức bồi thường được quy định
tại khoản 2 Điều 605, trong đó coi yếu tố lỗi vô ý là căn cứ giảm mức bồi
VI VĂN LUÂN, LỚP N02-TL4 NHÓM 2, MSSV 351951
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét