- Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế được tự do
tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật.
- Cạnh tranh là quy luật của thị trường.
- Khách hàng giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế.
- Tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế đều được tiền tệ hố.
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường, từ đặc điểm kinh doanh
tiền tệ cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các Ngân hàng hiện nay
hoạt động theo hướng đa năng tập trung vào ba hoạt động chính sau đây:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động cho vay đầu tư.
- Hoạt động trung gian và các loại hình dịch vụ khác.
• Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của các doanh
nghiệp nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ như Ngân hàng . Hoạt động này bao gồm huy động các nguồn tiền
gửi (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi giao dịch và phi giao dịch), các khoản đi vay
(vay từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế, từ các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác), tiền nhận uỷ thác đầu tư, tiền góp vốn liên doanh.
Ngồi ra các NHTM còn huy động vốn từ việc vay của Ngân hàng nhà
nước, vay trên thị trường liên Ngân hàng hoặc vay từ các thị trường vốn lớn
trên thế giới.
Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguồn
vốn phục vụ cho các hoạt động khác của Ngân hàng .
• Hoạt động cho vay và đầu tư.
Đây là hoạt động cấp vốn cho nền kinh tế trên cơ sở an tồn số vốn đã cấp
ra và số tiền thu được từ khoản vơn đã cấp phải lớn hơn tổng chi phí bao gồm
các chi phí cho hoạt động huy động vốn cũng như các chi phí khác có liên quan.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong hoạt động cho vay, thu nhập chủ yếu của Ngân hàng là lãi cho vay,
các khoản cho vay có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như
thời hạn cho vay, đối tượng cho vay, tính chất bảo đảm của khoản vay… Thơng
thường người ta chia các khoản vay theo thời hạn của chúng là tín dụng ngắn
hạn, tín dụng trung và dài hạn. Lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn
lãi suất cho vay ngắn hạn do các thời hạn vay dài hơn nên rủi ro cao hơn.
Trong hoạt động đầu tư mà ở đây chủ yếu là đầu tư vào chứng khốn,
mục đích của việc đầu tư vào chứng khốn là tìm kiếm lợi nhuận và đa dạng hố
hoạt động kinh doanh Ngân hàng . Mặt khác nắm giữ chứng khốn cũng là một
cách bảo đảm khả năng thanh khoản của Ngân hàng thơng qua việc đầu tư vào
các chứng khốn có tính thanh khoản cao như: tín phiếu và trái phiếu kho bạc
Nhà nước.
Các NHTM Việt Nam hiện nay, lợi nhuận thu được từ hoạt động này
chiếm từ 50% -70% tổng lợi nhuận. Tuy nhiên đây là hoạt động chứa đựng rủi
ro cao nên các Ngân hàng ln quan tâm đến chất lượng hoạt động này.
• Hoạt động trung gian và các loại hình dịch vụ khác.
Các NHTM đóng vai trò trung gian thực hiện các hoạt động theo u cầu
của khách hàng như thanh tốn, thu hộ, chi hộ, chuyển tiền, uỷ thác… Bên cạnh
đó các NHTM cũng cung các cấp loại hình dịch vụ có liên quan đến tài chính
như dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh… Các hoạt động này có độ rủi ro thấp hơn
hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn đem lại được nguồn thu lớn.
1.1.1.3/ Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng đóng vai trò là người mơi giới giữa một bên là những người
có tiền cho vay và bên kia là những người có nhu cầu cần vay vốn. Thơng qua
cơ chế thị trường, bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp dụng những
phương pháp kỹ thuật hiện đại theo hướng tiên tiến, Ngân hàng có khả năng thu
hút hầu hết những nguồn vốn tiền tệ dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi
đúng lúc, phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Như vậy, có thể
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hiểu tín dụng Ngân hàng là q trình cho vay của Ngân hàng đối với các cá
nhân, tổ chức, các doanh nghiệp có mối quan hệ với Ngân hàng cùng những
ràng buộc nhất định về thời gian hồn trả (gốc và lãi), lãi suất, cách thức vay
mượn và thu hồi.
Thơng thường tín dụng được chia làm hai loại là tín dụng ngắn hạn là tín
dụng trung và dài hạn. Các khoản tín dụng ngắn hạn hay còn gọi là tín dụng
thương mại thường được dùng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp. Còn các khoản tín dụng trung và dài hạn lại chủ yếu được dùng để đáp
ứng nhu cầu đầu tư vào các tài sản cố định của doanh nghiệp. Tín dụng trung và
dài hạn có đặc điểm là số lượng vốn vay lớn, thời gian vay dài(trên 1 năm), tiền
vay lại được dùng để đầu tư mua sắm, xây lắp tài sản cố định, do vậy các chủ
đầu tư thường phải lập một dự án gửi đến Ngân hàng . Dự án đầu tư được hiểu
là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục đích, phương pháp và
phương tiện cụ thể để đạt được những kết quả và mục đích nhất định sau một
khoảng thời gian xác định.
Tín dụng trung dài hạn có thể được phân loại như sau:
- Căn cứ vào đồng tiền cho vay có tín dụng trung và dài hạn bằng ngoại
tệ, tín dụng trung và dài hạn bằng bản tệ.
- Căn cứ vào tính chất có bảo đảm có thể chia thành tín dụng trung và dài
hạn có bảo đảm và tín dụng trung và dài hạn khơng có bảo đảm.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay có thể chia thành
tín dụng trung dài hạn đầu tư trong nước và tín dụng trung dài hạn xuất nhập
khẩu.
- Tín dụng tuần hồn: Là phương thức cho vay vào chu kỳ sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nó được coi là tín dụng trung và dài hạn khi thời hạn
của hợp đồng được kéo dài từ 1 đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và
được trả nợ khi có nguồn trong thời gian hợp đồng có hiệu lực.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Th mua: Đây là hình thức cho vay trung và dài hạn nhưng bằng thiết
bị thay bằng tiền, người đi th có quyền mua lại tài sản đó theo giá thoả thuận
trong hợp đồng.
- Bảo lãnh trung và dài hạn mua thiết bị trả chậm.
1.1.1.4/ Các đặc trưng cơ bản của tín dụng trung và dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là một loại hình tín dụng và nó được phân biệt với
các loại hình tín dụng khác qua một số đặc trưng cơ bản sau:
* Thời hạn cho vay.
Điểm khác biệt cơ bản đầu tiên giữa tín dụng trung dài hạn và tín dụng
ngắn hạn là thời hạn cho vay.
- Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với chu kỳ
sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng khơng q 12
tháng.
- Tín dụng trung, dài hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với
thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính
chất của nguồn vốn cho vay, trong đó:
+ Tín dụng trung hạn có thời gian từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc 60 tháng
tuỳ theo quy định của từng Ngân hàng .
+ Tín dụng dài hạn có thời gian trên 36 tháng hoặc 60 tháng.
* Đối tượng cho vay:
Đối tượng cho vay trung dài hạn là tồn bộ các chi phí cấu thành trong
tổng mức vốn đầu tư của các dự án xây dựng mới, mở rộng cải tạo cơng nghệ
Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng , đối tượng cho vay trung dài hạn là
các cơng trình, hạng mục cơng trình hoặc dự án đầu tư xây dựng, mua sắm tài
sản cố định. Của các đơn vị kinh tế có luận chứng kỹ thuật tốt, xác thực và tổng
dự tốn đã phê duyệt.
* Ngun tắc và điều kiện vay vốn.
Khách hàng muốn vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo được ba ngun
tắc tín dụng cơ bản. Đó là:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khi vay trung dài hạn, người vay phải soạn thảo dự án, chương trình sản xuất
kinh doanh. Các dự án này phải được thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng việc sử
dụng vốn theo các mục đích cụ thể. Mục tiêu này phải nằm trong mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế chung của vùng và cúa đất nước. Để cho dự án được thực
hiện, cần có sự thơng qua, cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Phải hồn trả tiền vay và lãi theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.
- Phải đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ, của Ngân
hàng Nhà nước.
Trên cơ sở các ngun tắc trên, mỗi Ngân hàng sẽ đề ra các điều kiện
ràng buộc, các quy định mang tính chất bắt buộc có thể thực hiện vốn vay của
Ngân hàng . Các quy định này về cơ bản là giống nhau nhưng các điều khoản cụ
thể thì khác nhau phụ thuộc vào mỗi Ngân hàng và thời điểm lịch sử.
Do các đặc trưng của tín dụng trung dài hạn nên thời gian thu hồi vốn là
rất lâu, có khả năng gặp nhiều rủi ro trong q trình sử dụng nên việc cho vay
trung dài hạn phải tn theo quyết định 367/QĐNH1 của thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về thể lệ tín dụng trung dài hạn như sau:
- Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi, có vốn
tham gia tối thiểu bằng 20% tổng dự tốn cơng trình đầu tư.
- Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà
nước về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung dài hạn của
Ngân hàng .
- Doanh nghiệp vay vốn phải mua bảo hiểm cho tài sản hình thành bằng
vốn vay tại một Cơng ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam,
nếu tài sản đó quy định phải mua bảo hiểm và cam kết sử dụng số tiền bồi
thường khi gặp rủi ro để trả nợ. Trường hợp khơng mua bảo hiểm do tổng giám
đốc Ngân hàng quy định.
- Đối với các cơng trình xây dựng mới phải có đầy đủ các điều kiện:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
+ Phải có giấy phép xây dựng và giấy phép sử dụng đất do các cấp có
thẩm quyền cấp để đảm bảo được tính pháp lý cho cơng trình.
+ Phải có lệnh hoặc hợp đồng phân phối vật tư máy móc thiết bị và nếu là
nhập khẩu trực tiếp thì phải có giấy phép nhập khẩu hợp pháp.
- Đối với cơng trình dự án của các đơn vị kinh tế của các đơn vị kinh tế đã
và đang hoạt động kinh doanh ổn định, đang có lãi thực sự, có xu hướng phát
triển tốt phù hợp với cơ chế kinh tế mới, phải có vốn tham gia tối thiểu 30%
tổng dự tốn cơng trình.
Hiện nay theo quy định mới của chính phủ, các đơn vị kinh doanh nếu
chứng minh được mình làm ăn có hiệu quả thì sẽ có khả năng vay vốn mà khơng
cần thế chấp.
1.1.2/ Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với phát triển kinh tế
ở Việt Nam.
1.1.2.1/ Tín dụng trung và dài hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết nắm bắt và tìm
mọi cách thoả mãn nhu câù ngày càng cao của người tiêu dùng. Điều đó đồng
nghĩa với doanh nghiệp cần có vốn để khơng ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm. Nguồn vốn ngắn hạn sẽ chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu vốn tạm thời trong
doanh nghiệp chứ khơng thể giúp doanh nghiệp trong việc đầu tư xây dựng cơ
bản, mua sắm máy móc trang thiết bị hiện đại. Do đó, doanh nghiệp cần đến
nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn. Đối với Việt Nam thì vay vốn Ngân hàng
được coi là lối thốt lớn nhất cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Bởi vậy
nếu các Ngân hàng chỉ chịu cung cấp vốn với thời gian ngắn hạn thì các doanh
nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức tái sản xuất, khơng có cơ hội tăng cường cơ sở
vật chất kỹ thuật đem lại năng lực sản xuất cao hơn. Trong điều kiện nước ta
hiện nay, việc đầu tư trung dài hạn nhằm tạo nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho sự tăng cường thực sự vững bền, đó là đảm bảo phát triển treo chiều sâu.
1.1.2.2 / Thúc đẩy mở rộng sản xuất phát triển.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Cho vay trung dài hạn đối với các thành phần kinh tế thực sự là loại hình
đầu tư chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất, tăng quy mơ, nâng cao năng lực sản
xuất, vì thế tín dụng trung và dài hạn thực sự là một cứu cánh khi doanh nghiệp
có tiềm năng mở rộng phát triển mà khơng có vốn đầu tư. Khi đã có vốn nghĩa là
một dự án đầu tư đã đi vào hoạt động, là một cơ hội mở rộng sản xuất, cơ sở
trang thiết bị đầy đủ làm cho năng lực sản xuất kinh doanh tăng lên, theo đó mà
sản phẩm hàng hố được sản xuất ra khơng những nhiều về số lượng, đa dạng về
mẫu mã chủng loại, phong phú về chất lượng, kích thích nhu cầu xã hội.
1.1.2.3/ Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn.
Tín dụng trung và dài hạn đầu tư vào máy móc thiết bi và xây dựng cơ
bản do đó kích thích sản xuất phát triển. Khi đó, các doanh nghiệp cần nhiều vốn
lưu động hơn để đáp ứng sự phát triển sản xuất, điều này tạo ra thị trường sử
dụng vốn ngắn hạn. Tốc độ phát triển sản xuất càng cao thì nhu cầu vốn lưu
động càng lớn và tín dụng trung dài hạn đã tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn
phát triển.
1.1.2.4/ Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng Cơng nghiệp hố-hiện đại
hố.
Thơng qua nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, Ngân hàng có thể cho
vay đáp ứng nhu cầu của ngành này chứ khơng phải ngành khác. Cơng nghiệp
hố khơng chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất cơng nghiệp
trong nền kinh tế mà là q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi
mới cơ bản về cơng nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao
và lâu bền của tồn bộ nền kinh tế quốc dân. Nội dung giai đoạn đầu của tiến
trình Cơng nghiệp hố-hiện đại hố đất nước là tập trung vốn đầu tư vào cơ sở
vật chất kỹ thuật,đổi mới và nâng cao trình độ cơng nghệ, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu… Để
thực hiện được điều đó, phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 10% và cần đến
40-50 tỷ USD cho đầu tư, trong đó nguồn vốn trong nước phải có từ 20-25 tỷ.
Trong điều kiện thị trường vốn nước ta chưa phát triển hồn thiện thì hiện tại và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thời gian tới tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng vẫn đóng vai trò quyết
định và như vậy qua chính sách tín dụng đối với các ngành kinh tế, Ngân hàng
có thể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Cơng nghiệp hố-hiện
đại hố.
1.1.2.5/ Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Nhờ có nguồn vốn đầu tư tín dụng trung, dài hạn mà các doanh nghiệp có
thể nhập khẩu máy móc trang thiết bị cơng nghệ. Đối với những nước đang phát
triển như Việt Nam thì việc mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu là con đường
ngắn nhất để chúng ta có thể đuổi kịp các nước về cơng nghệ. Ngồi ra, nhờ việc
nhập máy móc thiết bị, năng lực sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, sản phẩm
sản xuất ra chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của thị trường trong
ngồi nước, tăng khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.
1.2/ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.2.1/ Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM.
Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngồi vừa cụ thể, vừa trừu
tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất lượng
tín dụng tốt thì Ngân hàng mới có nhiều khách hàng, uy tín Ngân hàng được
nâng cao tạo điều kiện thúc đẩy cho Ngân hàng phát triển.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù
hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của Ngân
hàng .
Như vậy khi xem xét chất lượng tín dụng, cần tính đến ba nhân tố là
NHTM, khách hàng, nền kinh tế và NHTM.
Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải
phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân Ngân hàng và
phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo ngun tắc hồn trả
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đúng hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi
nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ q hạn đảm
bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn, trung
và dài hạn trong nền kinh tế.
Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng.
Thơng qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ làm
cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của Ngân hàng , đảm bảo thoả mãn
nhu cầu hợp lý về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng
là u cầu hàng đầu, vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng u cầu hợp lý của
khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản khơng phiền hà, thu hút được khách
hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng ngun tắc và quy định của tín dụng phù hợp với
tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng ,
góp phần làm lành mạnh tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế.
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng
động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với
những nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao
động,tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác
khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong
nước, tranh thủ vay vốn nước ngồi có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của mơi trường bên ngồi, nó thể hiện sức mạnh
một Ngân hàng trong q trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách
hàng tốt,thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an tồn của vốn tín dụng, chi phí
tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Chất lượng tín dụng khơng tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với
nhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sự
quản lý.
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử
dụng nhằm đạt được chất lượng tốt.
Để có được chất lượng tín dụng tốt thì hoạt động tín dụng phải có hiệu
quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong
hoạt động. Nói cách khác, chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin
cậy trong hoạt động. Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích đánh
giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các ngun
nhân của những tồn tại về chất lượng, sẽ giúp Ngân hàng tìm được biện pháp
thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế hoạt động sơi nổi và có sự cạnh
tranh gay gắt.
1.2.2/Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
Đối với các Ngân hàng thương mại, cho vay có vai trò quan trọng trong
phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng . Nhờ có hoạt động tín dụng mà
một Ngân hàng có thể mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, tăng quy mơ
nguồn vốn huy động và khả năng cho vay của mình. Nhận thức được tầm quan
trọng của hoạt động tín dụng, mỗi Ngân hàng cần phải tìm biện pháp nâng cao
chất lượng đối với các khoản cho vay và cho th của mình. Thực tế chất lượng
hoạt động tín dụng là một khái niệm tương đối và khơng có một chỉ tiêu tổng
hợp nào để phản ánh nó một cách chính xác. Thơng thường để đánh giá chất
lượng hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại, người ta dùng một
tập hợp các chỉ tiêu khác nhau, nhưng về cơ bản chất lượng tín dụng của một
Ngân hàng thương mại được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất: Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Thứ hai: Chỉ tiêu về nợ q hạn.
Thứ ba: Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Thứ tư: Đóng góp của hoạt động tín dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét