Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Tài liệu Việt nam và bán phá giá cá tra, basa pptx

địch thủ, tha hồ tăng giá. Nhưng các kỹ nghệ tiêu thụ thép, như các công ty xe hơi, thì kêu trời vì
phải mua đắt hơn. Mâu thuẫn giữa giới sản xuất và giới tiêu thụ nội địa xảy ra với tất cả loại
hàng, từ cái tầm thường như thịt bò hay tỏi đến những sản phẩm hiện đại như các bộ nhớ và
mạch bán dẫn cho máy tính. Và nếu Mỹ hầu như lúc nào cũng đang tranh chấp với các bạn hàng
vể sắt thép, thì vì kỹ nghệ này là lobby hung hăng và khai thác bộ máy AD triệt để nhất: trên
239 pháp lệnh AD ban hành năm 2001 ở Mỹ, 100 cái là để bảo vệ họ. Và từ 1995 đến nay, tổng
cộng có tới 14 vụ kiện trước WTO về các biện pháp của Mỹ nhằm bảo vệ sắt thép. Một tuần sau
biến cố 11.9.2001, các công ty sắt thép tuyên bố là họ đóng vai trò chiến lược trong an ninh
quốc gia vì phục vụ súng ống cho quân đội, do đó phải được đặc biệt bảo vệ và chiếu cố!
Nói rộng hơn, vấn đề AD còn là mối bất hoà giữa các ngành chỉ nhắm thị trường nội địa và các
ngành sống về xuất khẩu, các công ty đa quốc gia hoạt động trên địa bàn thế giới và muốn chính
quyền Mỹ nhượng bộ về vấn đề AD trong các thương thuyết đa phương để giành cho họ những
quyền lợi to tát khác. Đối với họ, chính sách AD làm họ thiệt thòi nhiều hơn là có ích.
Cuối cùng một điểm tâm lý phổ biến trong xã hội Mỹ cũng có vai trò ở đây. Thị trường Mỹ đủ to
lớn và đa dạng để đa số công chúng cảm thấy không cần biết đến thế giới bên ngoài. Bảo vệ các
quyền lợi cục bộ là điều dĩ nhiên, thị trường thế giới là cái gì xa vời và thứ yếu. Suy nghĩ vị kỷ
America first cũng có trong kinh tế như trong mọi lĩnh vực khác. Mặt khác, tiềm tàng trong suy
nghĩ của nhiều người là Mỹ làm ăn giỏi hơn bất cứ ai khác. America is best ! Công ty Mỹ hiệu quả
nhất, hàng Mỹ tốt nhất, người Mỹ “ngon” nhất, nên ai qua mặt được Mỹ chỉ có thể là vì gian dối,
qua một mánh lới xấu xa nào đó. Việc một nước có thể bán món hàng rẻ hơn vì lương nhân công
thấp hơn hay có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn, đối với họ là điều không tưởng. Khái niệm lợi
thế tương đối (comparative advantage) họ không cần biết đến. Nhận xét này không phải từ một
ông Tây, ông Ta nào ghét Mỹ mà là của Joseph Stiglitz, cựu viên chức cao cấp Ngân hàng thế
giới và người được giải Nobel kinh tế năm 2001!
Thái độ tự tôn ấy dĩ nhiên là các nước khác không thể chia xẻ được. Mỹ dùng đến AD nhiều thì
cũng gặp phải sự kháng cự mạnh. Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất về AD trước GATT/WTO, với 16
vụ trên 41 vụ kiện AD ở WTO cho tới nay. Gần đây và quan trọng nhất là vụ kiện về Đạo luật bù
trừ các biện pháp tài trợ và bán phá giá tiếp diễn (Continued Dumping and Subsidy Offset Act of
2000), gọi tắt là CDSOA hoặc Byrd Amendment vì xuất phát từ một dự luật của Thượng nghị sĩ
Robert Byrd. Ngày 28.10.2000, Tổng thống Clinton ký sắc lệnh ban hành luật này qua đó các số
tiền thu được qua thuế AD sẽ được chia lại cho các công ty Mỹ thắng kiện. Vì mức thuế AD có
thể lên tới 400% nên có thể là một nguồn lợi đáng kể, ngay cả cho một anh sản xuất một mặt
hàng khiêm tốn như nến: công ty Candle-lite, tại Cincinnati, nhờ thắng kiện một công ty TQ, đã
được chia 15,6 triệu đô-la tiền thuế AD thu trong năm 2002 và dự kiến sẽ còn nhận thêm 39
triệu đô-la trong năm nay. Món lộc béo bở này khiến một số công ty chế tạo nến khác cũng nhảy
vào, đòi được hưởng một phần của số tiền 65 triệu đô la thuế sẽ thu năm nay. Trong năm 2002,
Hải quan Mỹ đã chia lại cho khoảng 1 200 công ty tổng cộng 329 triệu đô la thu vào qua thuế
AD.
Các bạn hàng của Mỹ làm sao chịu được. Ngay trước khi Luật CDSOA ban hành, họ đã phản đối
kịch liệt và nêu lên những điểm sau đây: điều này vi phạm luật WTO vì ưu đãi các công ty nội địa
vừa được bảo hộ vừa được tài trợ trực tiếp. Vi phạm điều khoản cơ bản của WTO là đối xử bình
đẳng giữa công ty nội địa và công ty một nước thành viên khác. Mặt khác, các công ty nội địa sẽ
lại càng có lý do để khởi tố một cách vô tội vạ, với sự hùa theo, kích thích của các văn phòng
luật sư vốn đã giỏi “đánh hơi” những vụ kiện béo bở cho họ. Thói “nước đục thả câu”
(”ambulance chasing”) trong giới luật sư Mỹ sẽ trầm trọng hơn, góp phần làm căng thẳng hơn
nữa các quan hệ giữa Mỹ vả các bạn hàng.
Chỉ hai tháng sau ngày Luật CDSOA ban hành, 9 thành viên WTO trong đó có Nhật, Hàn Quốc và
Liên Hiệp châu Âu, đã yêu cầu Mỹ hội ý để giải quyết tranh chấp. Tháng 5.2001 đến lượt Canada
và Mexico yêu cầu hội ý. Đến tháng 8.2001 thì cả 11 thành viên này đã đệ đơn lên WTO yêu cầu
lập nhóm hội thẩm để xem xét vấn để. Đây là vụ kiện trước WTO với nhiều nguyên đơn nhất cho
tới lúc ấy, lại vừa phức tạp về pháp lý, vừa gai góc vể chính trị, nên cả năm sau, tháng 9.2002,
nhóm hội thẩm mới trình được bản báo cáo dài gần 400 trang, kết luận là Mỹ vi phạm luật WTO
và phải sửa sai. Mỹ kháng cáo lên Cơ quan thượng thẩm cũng vẫn thua nên bắt buộc sẽ phải bãi
bỏ luật CDSOA.
Phản ứng của Quốc hội Mỹ thật đốp chát. Thượng nghị sĩ Byrd và 67 nghị sĩ khác gửi thư đến
Tổng thống Bush yêu cầu giữ nguyên Luật CDSOA, bất chấp quyết định của WTO. Ông Byrd
thách Tổng thống Bush bãi bỏ luật và tuyên bố là WTO đã đi quá thẩm quyền của mình, xúc
phạm đến chủ quyền pháp lý của Mỹ.
Chính vì để Quốc hội và dư luận trong nước nói chung yên tâm là các bộ phận giải quyết tranh
chấp của WTO sẽ không dám “qua mặt” nhà nước Mỹ, nên trong vòng thương thảo Uruguay, các
nhà thương thuyết Mỹ đã đòi cho được một điều khoản qui định là các nhóm hội thẩm sẽ không
đảo ngược các kết luận của cơ quan hữu trách quốc gia nếu họ công nhận là các cơ quan này đã
xem xét vấn đề một cách khách quan và đúng đắn . Điều 17.6 này của Hiệp ước AD thường
được gọi là điều khoản về tiêu chuẩn cho việc xem xét (standard of review) hay về sự tôn trọng
các quyết định của cơ quan quốc gia (deference provision). Đây là điều khoản đặc biệt chỉ áp
dụng cho các vụ tranh chấp về AD, cho thấy tầm quan trọng và khía cạnh tâm lý đặc biệt của
vấn đề AD đối với Mỹ.
Tuy thế, trong quá trình giải quyết các tranh chấp AD giữa Mỹ và các nước khác cho tới nay,
WTO hay qui phần lỗi về phía Mỹ và cũng không nhất thiết áp dụng Điều 17.6 trong tinh thần mà
Mỹ mong muốn. Một lý do chính là vì các nhóm hội thẩm cũng như Cơ quan thượng thẩm đều
phân tích vấn đề trong quan điểm cơ bản của GATT/WTO là lấy sự tự do thương mại làm nền
tảng, cho nên cái gì giới hạn lại sự tự do ấy như các biện pháp AD đều khó bào chữa.
Vấn đề AD ngày càng là nguyên nhân của các đụng chạm về quyền lợi cũng như tư duy giữa các
nước, rất gay gắt trong vòng Uruguay, đã làm thất bại Hội nghị Seattle, làm căng thẳng Hội nghị
Doha và tiếp tục là một trong những trở ngại lớn phải vượt qua ở Hội nghị Cancun tháng 9 năm
nay. Các qui định về AD cũng phát triển qua các vòng thương thảo, ngày càng rõ ràng và được
bổ sung, một phần lớn dựa theo kinh nghiệm rút ra từ các tranh cãi và cách giải quyết tranh
chấp liên quan đến nhiều mặt của bộ luật và chính sách AD của Mỹ.
Bộ luật AD của Mỹ trong câu chữ và cách áp dụng
Mỹ không phải là nước đầu tiên có luật AD. Đạo luật đầu tiên về vấn đề này được ban hành tại
Canada năm 1904. Thành ngữ phổ biến thời ấy thật ra không phải là bán phá giá mà là “dùng
giá để chiếm đoạt” (predatory pricing), một khái niệm hơi khác vì có nghĩa là một công ty ngoại
quốc bán rẻ mạt, thậm chí bù lỗ, hầu sau này chiếm hết thị trường. Dần dà thành ngữ “bán phá
giá” thay thế “dùng giá để chiếm đoạt” với lý do đơn giản là dễ gán ghép cho nhiều “bị cáo” hơn
vì không cần phải chứng minh là hành động của họ che dấu cả một chiến lược thao túng thị
trường.
Sau Canada, những đạo luật tương đương được ban hành ở Tân Tây Lan năm 1905, Úc năm
1906 rồi Mỹ năm 1916. Các nước châu Âu cũng lần lượt theo chân trong thập niên 1920.
Luật AD đầu tiên của Mỹ nằm trong hai điều khoản 800-801 của Luật thuế (Revenue Act of
1916), và ghi rõ trong định nghĩa bán phá giá một điều kiện: “nếu là trong mưu đồ huỷ diệt hay
gây tổn hại cho một ngành sản xuất của Mỹ hay để ngăn chặn sự ra đời của ngành sản xuất ấy”.
Vì “mưu đồ” này rất khó chứng minh nên câu này biến mất khỏi Đạo luật Antidumping ban hành
năm 1921. Bộ máy pháp lý về AD của Mỹ như thế là cả một tổng hợp nhiều văn kiện gồm Đạo
Luật 1916, Đạo luật 1921 - được thay thế bởi Chương VII của Luật thuế quan (Title VII of the
Tariff Act 1930 - 19 U.S.C.§§ 1673-1677n)-, điều lệ của Bộ thương mại (DOC’s Regulations - 19
C.F.R. § 351), và nhiều điều lệ sửa đổi và bổ sung, trong đó gần đây và quan trọng nhất là Đạo
luật CDSOA.
Như đã nói ở trên, các nguyên tắc cơ bản của bộ luật AD của Mỹ không khác các qui tắc của
WTO, vấn đề là ở cách vận hành của bộ luật qua các điều lệ thi hành, và cách các cơ quan hữu
trách áp dụng những điều lệ ấy. Tức là chính sách AD của Mỹ trong thực tế. Trong các vụ tranh
chấp trước WTO, các nhóm hội thẩm (panels) phải xem xét là điều lệ liên can có hợp lệ hay
không cả trong câu chữ, tức là tự bản thân (on its face and as such), lẫn trong cách áp dụng (as
applied). Trong nhiều trường hợp, nhóm hội thẩm quyết định là đạo luật liên can, tự bản thân,
phù hợp với luật WTO, nhưng cách áp dụng thì lại trái luật của WTO, do đó họ không yêu cầu
nước bị kiện phải sửa đổi luật nhưng vẫn yêu cầu các cơ quan hữu trách phải sửa đổi hay rút lại
biện pháp cụ thể của mình. Và như thế là đủ để bên nguyên coi như thắng kiện.
Cách vận hành của luật và hệ thống AD tại Mỹ
Mỗi vụ kiện AD diễn ra với sự tham dự của 3 bên: các công ty nội địa đệ đơn, là nguyên đơn, các
công ty ngoại quốc bị kiện, là bị đơn, và chính quyền nước nhập khẩu phải xét xử để đi đến
quyết định có áp thuế AD hay không. Nếu vụ tranh chấp được đưa ra trước WTO thì vì WTO chỉ
xét xử các vấn đề giữa hai quốc gia nên bên nguyên là chính quyền nước nhập khẩu, bên bị là
chính quyền nước xuất khẩu, mỗi bên đại diện cho các công ty của mình, và nhóm hội thẩm của
WTO đóng vai trò trọng tài. Nhưng dù là ở mức độ nội bộ một nước hay trước WTO, không phải
bất cứ ai cũng có thể đệ đơn tố cáo một công ty ngoại quốc để khởi đầu thủ tục tố tụng. Điều
5.4 của Hiệp ước AD qui định là cơ quan hữu trách chỉ có thể mở thủ tục điều tra nếu đơn kiện là
do ngành sản xuất nội địa đứng tên hay được đệ trình nhân danh họ. Để hội đuợc điều kiện này,
đơn kiện phải được đưa ra dưới tên hay với sự ủng hộ của các công ty sản xuất ra ít nhất 25%
tổng sản lượng mặt hàng tương đương trong nước. Do đó nhiệm vụ đầu tiên của cơ quan hữu
trách là phải xác định tính đại diện của các công ty đệ đơn (petitioners’ standing determination).
Sau đó, phải xác định hai điều cơ bản là có dumping hay không và có sự tổn hại hay không. Tại
Mỹ, hai nhiệm vụ này được giao cho hai cơ quan khác nhau: Bộ thương mại (Department of
Commerce - DOC) xác định có dumping hay không và nếu có thì tới mức nào. Uỷ Ban hiệp
thương quốc tế (International Trade Commission - ITC) xác định có hay không tổn hại hay nguy
cơ tổn hại cho ngành sản xuất nội địa do hàng nhập bán phá giá gây ra. DOC và ITC phối hợp
làm việc trong những thời hạn qui định, và cho biết kết luận trong những bản phán quyết sơ bộ
và cuối cùng (preliminary and final determinations). Nếu DOC phán quyết là không có dumping,
thủ tục đương nhiên chấm dứt. Nếu DOC phán quyết là có dumping, ITC sẽ xem xét vấn đề tổn
hại. Nếu ITC cũng phán quyết là có tổn hại hay nguy cơ tổn hại, thì DOC sẽ ra một pháp lệnh AD
(antidumping order) ấn định biên độ dumping áp dụng cho những công ty ngoại quốc tham gia
vụ kiện, và một mức khác cho tất cả các công ty khác xuất khẩu cùng mặt hàng từ nước bị kiện
nhưng không tham gia. Mức này không phải là mức thuế AD mà để tính số tiền mặt ký quỹ (cash
deposit) công ty nhập khẩu Mỹ phải đóng cho Hải quan Mỹ để tiếp tục nhập món hàng, cho đến
khi DOC ấn định mức thuế AD chính thức, thường là một năm sau khi pháp lệnh ban hành, và
mỗi năm sau đó vào thời điểm ấy. Nếu thuế thấp hơn tiền ký quỹ, Hải quan sẽ trả lại số sai biệt
cộng thêm lãi. Nếu thuế cao hơn, công ty nhập khẩu phải trả số sai biệt, cũng cộng thêm lãi. Do
đó, có khi công ty nhập khẩu đóng ký quỹ trên cơ sở biên độ dumping là 5% chẳng hạn, để rồi
bị đập thuế AD 100% một năm sau, sau khi DOC đã xem lại vấn đề. Tuỳ theo mặt hàng và số
lượng nhập khẩu, số tiền sai biệt phải đóng, cộng thêm lãi, cũng đủ làm công ty điêu đứng.
Như Điều 11.3 của Hiệp ước AD qui định, các thuế AD phải chấm dứt trễ nhất là 5 năm sau khi
ban hành, trừ phi cơ quan hữu trách, sau khi xem xét lại vấn đề, khẳng định rằng cần phải duy
trì thuế để tránh việc bán phá giá tiếp tục hay tiếp diễn. Do đó luật AD của Mỹ cũng dự trù DOC
phải xem xét lại các thuế AD 5 năm sau ngày ban hành, khi biện pháp tới lúc phải chấm dứt.
Điều khoản và việc xem xét lại này do đó được gọi là “hoàng hôn” (sunset provision, sunset
review).
Cho tới đây thì không có gì trái luật WTO cả, và chẳng có gì sai trái. Vậy thì các bạn hàng của Mỹ
than phiền những nỗi gì ? Chính sách của Mỹ quá quắt ở chỗ nào? Cũng như trước khi đặt bút ký
một hợp đồng, chúng ta nên đọc kỹ mấy hàng chữ nhỏ li ti ở cuối trang, cái “chết người” ở đây
cũng nằm trong các chi tiết.
Những điểm chính gây tranh cãi trong cách áp dụng luật AD ở Mỹ
Chúng ta có thể theo tuần tự diễn tiến của một vụ kiện AD để nêu lên những điểm gây vấn đề.
Giai đoạn điều tra dẫn tới phán quyết là giai đoạn quan trọng nhất và cũng “hiểm nghèo” nhất
đối với công ty bị tố cáo, tập trung đủ thứ trở ngại phải vượt qua.
Bảng câu hỏi
Trước tiên, để phân xử cho công minh, DOC phải nghe lý lẽ của cả hai bên. Sau khi nhận được
đơn của các công ty Mỹ, trong đó họ viện dẫn các lý do tố cáo, DOC gửi đến các công ty ngoại
quốc bị kiện một hoặc nhiều bảng câu hỏi để cho họ cơ hội trả lời và tự bào chữa. Đây là thử
thách đầu tiên và cũng là cái bẫy cho nhiều công ty, nhất là từ những nước nghèo, ít kinh
nghiệm làm ăn với bên ngoài, thiếu người và thiếu của để đáp ứng các đòi hỏi của DOC. Những
câu hỏi rất phức tạp, tràng giang đại hải, viết trong một thứ ngôn ngữ kỳ dị, đặt những vấn đề
xa lạ đối với thế giới ngoài Mỹ (và chính ở Mỹ cũng ít người hiểu nổi!). Ngay cả khi nhân viên
công ty ngoại quốc thông thạo tiếng Anh đi nữa, cũng có mấy người biết EP, CEP, POI, POR,
CONNUM, FUPDOL, TOTPUDD, PCTMARG, DIFMER, v.v. là cái quái gì ! Không kể là phải trả lời
trong thời hạn rất ngắn: thí dụ trong vụ kiện công ty điện tử Matsushita, DOC đòi hỏi họ phải
dịch sang tiếng Anh 3 000 trang tài liệu về tài chính. Lệnh của DOC ban ra chiều thứ sáu và hạn
nộp là sáng thứ hai tuần sau! Công ty Matsushita chịu thua và rút ngay mặt hàng của mình ra
khỏi thị trường Mỹ.
Thông tin tốt nhất có thể có
Cho nên, nếu vì không hiểu các câu hỏi hay vì coi nhẹ vấn đề, công ty nước ngoài không trả lời
hay trả lời vớ vẩn, hay chỉ vấp phải một trong các “tội” như đưa các con số không thể kiểm tra
được, trả lời chậm trễ, không đầy đủ, hay không đúng theo mẫu mã qui định, thì DOC sẽ coi là
họ không hợp tác và quay sang các dữ kiện sẵn có (facts available) và thông tin tốt nhất có thể
có (best information available). Các dữ kiện và thông tin này thường chỉ là những gì các công ty
Mỹ viện dẫn trong đơn kiện, tức là những con số, dữ liệu hết sức bất lợi cho công ty nước ngoài.
Tệ hơn nữa, DOC sẽ lấy lại nguyên si, không thắc mắc, biên độ dumping do các công ty Mỹ đề
nghị. Và dĩ nhiên là biết trước như vậy, các công ty Mỹ đã tính mức cao nhất có thể tính được,
“tốt nhất” đối với chính họ và xấu nhất cho công ty nước ngoài!
Chính vì có nhiều nước xuất khẩu than phiền điều trên mà Hiệp ước AD dành riêng một phụ đính
về các thông tin tốt nhất có thể có, qui định rõ ràng hơn bổn phận của đôi bên, giới hạn lại
quyền chuyên quyết của cơ quan hữu trách trong việc chấp nhận hay bác bỏ các thông tin của
các công ty xuất khẩu đưa ra. Tuy thế đây vẫn là một điểm gây nhiều khó khăn cho các nước bị
kiện AD ở Mỹ.
Kiểm tra tại chỗ
Nếu công ty nước ngoài qua được cửa ải đầu, trả lời sao cho khéo, cho đúng tiêu chuẩn thì cũng
chưa nên vội mừng, vì DOC sẽ gửi người tới tận nơi kiểm tra xem khai báo có thành thật, đầy đủ
không, và so sánh với những gì công ty Mỹ nói. Lại là một dịp để bắt bẻ nhau, cãi lý cãi chầy, bới
lông tìm vết, không kể là soi mói vào những chi tiết thầm kín nhất của công ty là điều chẳng có
anh làm ăn nào thích. Và nếu công ty ngoại quốc không qua được khâu này thì DOC lại có thể
dùng các “thông tin tốt nhất” do phía Mỹ đưa ra.
Điều chỉnh giá cả (price adjustments)
DOC không bao giờ so sánh trực tiếp các giá thực tế mà dùng rất nhiều phép tính rắc rối, dựa
trên đủ mọi yếu tố, để điều chỉnh các con số này rồi mới so sánh chúng với nhau. Mỗi yếu tố đều
có thể làm sai lệch kết quả cuối cùng, tuỳ theo cách tính của DOC: các khoản chi tiêu cho tiếp
thị, chi phí vận chuyển, chiết khấu (discounts), sự khác biệt giữa các món hàng, sự phân biệt đối
xử giữa các khách hàng có và không có quan hệ hữu cơ với người bán (arm’s length test), v.v.
DOC hay dùng yếu tố cuối cùng này để bóp méo các con số và đi đến kết luận là có dumping.
Tính gộp thành số không (zeroing)
Đây là một trong những điểm tranh cãi gay gắt và dai dẳng nhất về đề tài AD tại WTO, đuợc coi
là một trong những bất công lớn nhất. Thật ra không phải chỉ có Mỹ mới làm chuyện này, nhưng
Mỹ là “chuyên gia” dùng cách này để tính được biên độ dumping cao nhất bất kể thực tế ra sao,
thậm chí ngay cả khi không có dumping cũng biến thành có, cứ như trò ảo thuật. Vấn đề như
sau: nếu sau khi cộng trừ nhân chia đủ thứ xong, kết quả là không những công ty ngoại quốc
không bán phá giá mà còn bán ở Mỹ với giá cao hơn giá bán trong chính nước mình, thành thử
biên độ là âm (negative margin), thì thay vì công nhận điều đó, DOC coi nó như là ngang với số
không. Vì trong các tính toán để ra biên độ dumping cuối cùng, có rất nhiều biên độ khác nhau
nên nếu không trừ đi các biên độ âm mà chỉ gộp thành số không thì con số cuối cùng, được coi
như biên độ dumping chính thức, hoặc cao hơn thực tế hoặc là dương trong khi thật ra nó phải là
âm. Từ đó có thể hiểu được tại sao tuyệt đại đa số các điều tra của DOC dẫn đến một phán
quyết là có dumping (affirmative determination).
Quy chế phi kinh tế thị trường
Đối với một số nước, vấn đề lại còn phức tạp hơn khi DOC quyết định là không thể so sánh trực
tiếp các giá cả (và cách tính giá) tại các nước ấy và tại Mỹ vì họ không theo kinh tế thị trường
(non-market economy - NME). DOC khẳng định giá ở Mỹ là giá thị trường còn giá trong các nước
ấy là do nhà nước ấn định hay chi phối. Trong trường hợp ấy, DOC dùng các dữ liệu của một
nước thay thế (surrogate country), được coi như tương đương với nước bị kiện về trình độ phát
triển kinh tế, sức mạnh thương mại v.v. Tuy thế, sự so sánh qua trung gian một nước thứ ba này
thường bất lợi cho bên bị kiện. Đầu tiên, việc DOC đặt ra vấn đề phi kinh tế thị trường đã là dấu
hiệu không tốt lắm. Trong giai đoạn từ 1986 đến 1992, chẳng hạn, các nước NME chỉ chiếm 3%
tổng số hàng hoá nhập vào Mỹ nhưng 20% số vụ kiện AD. Theo một bài phân tích, sự khác biệt
ấy chứng tỏ DOC có chính sách nghi kỵ, phân biệt đối xử đối với các nước bị liệt vào thành phần
này.
Sau đó việc chọn nước nào là nước thay thế dĩ nhiên cũng có thể tuỳ tiện, phản thực tế và
thường là bất lợi cho nước bị kiện. Thí dụ, trong vụ kiện Trung Quốc về đường hoá học
(saccharin), DOC chọn Ấn Độ là nước thay thế và dựa vào giá a-xít clo-hi-đrích của Ấn Độ là 2,80
USD một ký, trong khi giá ở Mỹ chỉ 3 cents một ký. Trong vụ kiện TQ về tôm hùm, DOC coi giá
nhập của tôm hùm Portugal vào Tây Ban Nha là tương đương với giá tôm hùm bán tại TQ, bất kể
sự khác biệt hiển nhiên giữa TQ và 2 nước này, rồi tính các biên độ dumping cho Trung Quốc là
từ 90 đến 201%.
Phương pháp áp dụng đối với các NME do đó có nhiều khả năng làm sai lệch kết quả cuối cùng
và thiệt thòi cho nước bị kiện. Điều đáng để ý là chính một cựu quan chức cao cấp của Mỹ, bà
Charlene Barshefsky, nguyên USTR trong chính quyền Clinton, trước khi nhậm chức này, đã có
lần chỉ trích phương pháp này trong một bài phân tích!
Điều khoản hoàng hôn
Cuối cùng, sau khi đã thua kiện, nếu còn may là thuế AD không cao quá, không làm cho các bạn
hàng là các công ty nhập khẩu Mỹ bỏ chạy cả, thì các công ty mang tội bán phá giá cũng chưa
hết mệt. Không phải cứ cắn răng chịu thuế hết 5 năm là thoát nợ, vì việc xem xét lại vấn đề cũng
rất gay go. Hoàng hôn này lắm khi chẳng bao giờ chịu tắt! Có những thuế AD dây dưa cả mấy
chục năm vì cứ mỗi lần xét lại, các công ty Mỹ lại lên tiếng phản đối và DOC lại phán quyết là
nguy cơ bán phá giá vẫn còn đấy. Thí dụ, năm 1983 DOC ra pháp lệnh AD về ba-ri clo-rua
(baryum chloride) nhập từ Trung Quốc, và từ đó chỉ còn rất ít số lượng hàng nhập này từ Trung
Quốc vào Mỹ . Tuy thế, năm 1999, Ủy Ban ITC quyết định giữ pháp lệnh này thêm 5 năm kể từ
năm 2000, tức là cho đến 2005, hơn 20 năm sau ngày ban hành. Nói cách khác, trong nhiều
trường hợp, DOC và ITC sẽ duy trì các pháp lệnh và thuế AD bao lâu mà các công ty Mỹ còn
muốn chặn món hàng nhập ấy.
Nói tóm lại, vì mục đích các bộ luật AD trong các nước nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa nên
không ngạc nhiên nếu, khi áp dụng chúng, các cơ quan hũu trách khai thác triệt để các yếu tố
bất lợi cho các công ty nước ngoài. Và Mỹ là nước làm chuyện này một cách hiệu quả nhất. Câu
hỏi đặt ra là nếu muốn và phải tiếp tục buôn bán với Mỹ, vì không thể đứng ngoài cái thị trường
vừa khổng lồ vừa giàu có này, thì có cách nào đối phó để có thể sống chung với bộ máy AD này?
Vài “bí quyết” để sống còn với bộ máy AD
Bộ máy AD của Mỹ lợi hại nhưng không phải là không có cách thắng được nó, nếu không thì còn
ai dám làm ăn với Mỹ. Đã có nhiều trường hợp công ty nước ngoài thắng kiện và hay ít ra giảm
được tối đa các hậu quả khi thua. Để khai thác tất cả các yếu tố có lợi cho mình, công ty nước
ngoài thường phải nhờ đến những chuyên gia nắm rõ luật Mỹ. Những vụ kiện AD cũng là cả một
“kỹ nghệ” làm giàu cho các văn phòng luật sư ở Mỹ. Ông William Perry, một cựu nhân viên của
ITC và DOC chuyển sang làm tư vấn và chuyên biện hộ cho các công ty bị kiện AD, đã có các lời
khuyên như sau, dựa vào kinh nghiệm của Trung Quốc:
1. Phải tham gia
Theo ông Perry, văn phòng của ông đã bênh vực thành công các công ty xuất khẩu Trung Quốc
trong tất cả 12 vụ kiện AD họ được giao phó. Trường hợp duy nhất họ thua là vụ kiện về tỏi. Tuy
các công ty nhập khẩu Mỹ tham gia vụ kiện với tư cách bị đơn và yêu cầu các nhà sản xuất TQ
cùng tham gia nhưng các công ty Trung Quốc từ chối với lý do: “Thị trường Mỹ không quan
trọng đối với chúng tôi”. Vì phía Trung Quốc không có mặt, DOC bắt buộc phải dùng các con số
của các nguyên đơn Mỹ và quyết định áp dụng cho tất cả các công ty TQ biên độ dumping 376%
viện dẫn trong đơn kiện. Và vì Trung Quốc không tham gia nên ITC cũng phán quyết theo là có
sự tổn hại cho ngành sản xuất tỏi ở Mỹ. Kết quả là với một biên độ như thế, không còn ai nhập
tỏi Trung Quốc vào Mỹ từ năm 1994 đến nay.
Chưa hết, văn phòng luật sư Mỹ thắng kiện trong vụ tỏi cũng “phát huy thành quả” ấy để khởi tố
một số mặt hàng khác nhập từ Trung Quốc như mật ong, xe đạp, nấm và cây chàm. Giá trị các
mặt hàng nhập này là 300 triệu đô la. Từ củ tỏi khiêm tốn, chỉ một văn phòng luật sư thôi đã có
thể ảnh hưởng lên mấy trăm triệu xuất khẩu của TQ.
Ngay cả trong nội bộ bên bị, cũng có sự khác biệt giữa các công ty tham gia thủ tục và các công
ty đồng hương nhưng đứng ngoài vụ kiện. Vì thuế AD áp dụng cho cả nước xuất khẩu (country-
specific), nên mọi công ty của nước ấy đều bị liên can. Do đó công ty nào không tham gia thủ
tục là mất cơ hội đưa ra các chứng từ, dữ liệu thuận lợi cho mình, và sẽ phải chịu biên độ
dumping và mức thuế do DOC ấn định theo các con số và đề nghị của nguyên đơn, tức là cao
nhất, áp dụng chung cho một danh sách “hổ lốn” gọi là “all others”.
2. Cố gắng để cuộc điều tra sơ khởi dẫn đến kết luận tốt nhất
Để DOC quyết định áp thuế AD, các công ty nguyên đơn phải chứng minh hai điều: thuyết phục
DOC là có biên độ dumping và thuyết phục ITC là có sự tổn hại hay nguy cơ tổn hại. Nếu họ đạt
được hai kết quả này thì công ty ngoại quốc chỉ còn có thể cứu vãn tình thế bằng tranh thủ DOC
giảm tối đa biên độ dumping khi xét lại vấn đề trong những năm sau. Do đó phải làm sao để
cuộc điều tra sơ khởi dẫn đến kết luận tốt nhất. Có 3 cách: 1. Thuyết phục ITC là không có tổn
hại (và thoát không bị thuế gì cả). 2. Thuyết phục DOC là biên độ dumping không đáng kể. 3.
Thương lượng với chính quyền Mỹ một thoả thuận đình chỉ (suspension agreement) qua đó DOC
ngưng thủ tục AD, không áp thuế, với điều kiện công ty tuân thủ một hạn ngạch (quota) và một
mức giá tối thiểu do DOC ấn định. Tuy rằng cũng không dễ mà có được thoả thuận này. Trong
hơn 80 vụ kiện liên quan đến Trung Quốc , chính phủ Mỹ chỉ đồng ý thỏa thuận đình chỉ trong
hai vụ là mật ong và tôn thép các-bon. Trong vụ mật ong, lý do là các công ty Mỹ nhập và phân
phối mật ong đã làm áp lực mạnh với DOC để khỏi mất nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc và viện
dẫn lý do bảo vệ công ăn việc làm cho lao động. Điểm này dẫn chúng ta đến yếu tố sau, là “con
bài” mạnh nhất của các công ty nước ngoài.
3. Liên kết với các công ty nhập khẩu của Mỹ
Các công ty nhập khẩu ở Mỹ là đồng minh tất yếu của các công ty xuất khẩu ngoại quốc vì cùng
chung một quyền lợi: người này muốn bán thì người kia cũng muốn mua. Do đó liên kết với nhau
để thoát khỏi thuế dumping là đương nhiên. Trong hai vụ kiện về tôm hùm và nấm, các công ty
TQ thua đậm vì đơn phương độc mã ra trận. Ngược lại, trong các vụ đường hoá học, carbue
silicium, thuốc nhuộm gốc lưu huỳnh, những thuyết trình của các công ty nhập khẩu đã thuyết
phục ITC quyết định là không có tổn hại. Các công ty nhập saccharin còn nói rõ là nếu họ không
nhập từ Trung Quốc được vì bị thuế AD thì sẽ quay sang nhập đường của Hàn Quốc, còn rẻ hơn
nữa! ITC bèn phán quyết là không có tổn hại khi thấy biện pháp AD sẽ không nâng đỡ nhà sản
xuất Mỹ nào mà chỉ có lợi cho Hàn quốc.
Mặt khác, các công ty nhập khẩu cũng có thể tranh thủ sự ủng hộ của các công ty tiêu thụ (end
users), như trong vụ các-bua silicon: sự tham gia của công ty General Motors, hãng chế tạo xe
hơi lớn nhất nước Mỹ và khách hàng đáng kể của các-bua silicon TQ, là một trong những nguyên
nhân chính khiến ITC quyết định là không có tổn hại.
4. Ứng xử với DOC
Một vấn đề không nhỏ là giữ được thái độ đúng đắn trong quan hệ với DOC. Công việc của các
thanh tra của DOC là kiểm tra xem các trả lời của công ty có đúng không, tức là họ được trả
lương để nghi ngờ và bắt lỗi. Tuy thế cũng không nên coi họ như địch thủ, và miễn là các điều
sai không quan trọng lắm và công ty bị điều tra tỏ ra có thiện chí hợp tác, DOC cũng sẽ nhân
nhượng. Ngược lại cũng không nên hồ hởi thân thiện quá. Trong vụ đường hoá học, vì một cô
nhân viên TQ muốn thực tập tiếng Anh với các thanh tra của DOC nên nói nhiều thành sơ ý, vô
tình tiết lộ nhiều điều bất lợi cho công ty, xém làm hỏng hết mọi sự!
Nói chung, các nguyên tắc sau đây cần phải để ý:
Xuất hiện đúng nơi đúng lúc, biết phiên họp nào là quan trọng nhất thiết phải có mặt, như các
buổi họp của ITC. Trong tất cả những vụ mà công ty bị kiện không đến dự các buổi họp, kết quả
bao giờ cũng rất tệ.
Hợp tác tích cực, trả lời tất cả các câu hỏi và cẩn thận tránh mọi hiểu lầm hay sơ ý bất lợi cho
bản thân. Trong vụ kiện về cồn poly-vinyl (polyvinyl alcohol -PVA), công ty sản xuất sơ ý viết sai
giá của a-xít a-xê-tích, là dung dịch chính, đưa ra con số cao hơn thực tế gấp 6 lần, khiến DOC
ấn định biên độ dumping là 187 %. Sau khi phát hiện sai lầm, công ty xuất khẩu xin điều chỉnh
lại và rốt cuộc kéo được biên độ xuống 0 % trong bản phán quyết cuối cùng.
Đi tới cùng, không bỏ cuộc mặc dầu diễn tiến có vẻ bất lợi. Trong vụ đường hoá học, tuy là DOC
ấn định biên độ dumping là 145% trong bản phán quyết cuối cùng, nhưng các công ty xuất khẩu
TQ kiên trì đeo đuổi thủ tục trước ITC để rồi đạt được thắng lợi hoàn toàn vì ITC phán quyết là
không có tổn hại.
Nói tóm lại, bộ máy AD của Mỹ cũng vẫn để cho các công ty ngoại quốc vài khả năng thắng kiện,
hay ít ra cứu vãn được phần nào tình thế. Tham gia vào thủ tục thì còn có cơ may thành công,
chứ không tham gia là cầm chắc cái thất bại.
Catfish và Việt Nam
Nhìn người lại nghĩ đến ta, những kinh nghiệm của Trung Quốc ở trên may ra có thể giúp Việt
Nam vượt qua sự đụng độ đầu tiên với bộ máy AD của Mỹ chăng. Qua diễn tiến của vấn đề cho
tới nay, có thể tìm thấy nhiều điểm đã nêu trên trong vụ kiện VN về cá da trơn, còn gọi là cá
nheo (catfish).
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá da trơn sang Mỹ năm 1996, và đến năm 2001 thì số lượng cá da
trơn VN vào Mỹ đã lên đến hơn 9 triệu ký lô. Tuy thế con số này vẫn chỉ bằng 1,7% tổng số loại
cá này tiêu thụ tại Mỹ. Một tỷ lệ khiêm tốn nhưng cũng đủ để ngành sản xuất nội địa tại Mỹ thấy
chướng tai gai mắt. Phát súng đầu tiên được bắn ra cuối tháng 12.2001, khi các thượng nghị sĩ
Trent Lott và John Breaux, đáp ứng chiến dịch lobby của Hiệp hội các chủ trại cá da trơn Mỹ
(Catfish Farmers of America - CFA), yêu cầu Quốc hội Mỹ thông qua một dự luật khẳng định là
tên gọi catfish chỉ dành cho loại cá Ictalurus punctatus mà thôi. Cá da trơn VN thuộc vào loại
Pangasius. Từ đó, để tiếp tục được xuất khẩu sang Mỹ, loại cá này phải mang tên là basa, hay cá
tra. Song song với việc ép đổi tên này, các nhà sản xuất Mỹ cũng tung ra tin là cá VN nuôi trong
điều kiện rất thiếu vệ sinh. Một phái đoàn của Bộ Nông nghiệp Mỹ đến tận đồng bằng sông Cửu
Long để điều tra và phủ nhận nguồn tin này. Số lượng cá từ VN sang Mỹ, dưới tên basa, vẫn tiếp
tục tăng.
Ngày 28.6.2002, CFA và một số các công ty chế biến cá da trơn tại Mỹ đệ đơn lên DOC yêu cầu
mở điều tra AD về một số mặt hàng phi-lê cá đông lạnh từ VN, với lý do là các mặt hàng này, vì
được nhập vào Mỹ dưới giá hợp lý, là mối đe doạ cho ngành sản xuất nội địa Mỹ và qua sự cạnh
tranh bất chính này đã chiếm 20% thị trường của Mỹ, một thị trường trị giá 590 triệu đô la. Ngày
18.7, DOC khởi đầu thủ tục điều tra và tiến hành các giai đoạn công bố, tập hợp ý kiến các bên.
Bên nguyên là CFA và bên bị là các nhà sản xuất và chế biến VN được đại diện bởi Hiệp hội chế
biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam - VASEP). Ngày 08.11, DOC thông báo quyết định coi VN là
nước phi kinh tế thị trường (NME) , sau khi đã nghiên cứu các nhận xét và ý kiến tranh luận của
đôi bên. Bên nguyên đề nghị áp dụng quy chế NME cho VN. Ngược lại, ngoài VASEP, chính phủ
VN, Phòng thương mại Mỹ tại VN, và một số công ty Mỹ hoạt động tại VN như Cargill, Unilever,
CitiGroup, New York Life International, ủng hộ việc công nhận VN là kinh tế thị trường.
Để quyết định áp dụng quy chế kinh tế thị trường hay phi kinh tế thị trường cho một nước, DOC
xem xét các yếu tố sau đây :
- khả năng chuyển đổi đồng tiền quốc gia sang các ngoại tệ,
- mức độ tự do ấn định lương bổng qua thoả thuận giữa lao động và chủ nhân,
- mức độ cho phép đầu tư và hoạt động của liên doanh nước ngoài,
- mức độ kỉểm soát hay sở hữu của chính quyền đối với các phương tiện sản xuất,
- mức độ kiểm soát của chính quyền đối với việc phân bố các tài nguyên và các quyết định về giá
cả và sản xuất của xí nghiệp,
- những yếu tố khác được cơ quan thẩm quyền xem là thích hợp.
DOC đi đến kết luận là tuy VN đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong một số cải cách kinh tế
và để mở cửa thị trường ra bên ngoài, nhưng vẫn chưa tiến hành công việc chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường. Các chức năng thị trường vẫn chưa đủ mạnh để thay thế chính quyền trong
sự vận hành của nền kinh tế, chưa đủ để DOC sử dụng các giá cả và chi phí tại VN trong việc
phân tích bán phá giá.
Sau khi phản đối quyết định bất thuận lợi này, tháng 12.2002, VASEP chính thức đề nghị DOC
dùng Bangladesh là nước thứ ba để tính các chi phí sản xuất. Trong 5 nước DOC đưa ra để VN
chọn - Bangladesh, Ấn Độ, Guinea, Kenya và Pakistan -, Bangladesh được chọn vì gần với VN
nhất về một số điểm: mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người (380 USD/người), cùng nằm ở
châu thổ các giòng sông lớn thuận tiện cho việc nuôi cá ngọt, có loại cá rất giống cá basa.
Ngày 27.01.2003, DOC đưa ra phán quyết sơ bộ là các công ty VN bán phá giá cá tra tại Mỹ, và
ấn định các biên độ dumping từ 37,94% đến 61,88 % cho các công ty này, tùy theo trọng lượng
của mỗi công ty, và một mức chung 63,88% cho toàn VN. Ngay hôm sau, VASEP đã phản đối và
nêu lên những sai sót hay điểm bất hợp lý trong phân tích của DOC. Nhờ vậy, tháng 3.2003,
DOC đã quyết định sửa lại mức thuế AD sẽ áp dụng cho các công ty tham gia vụ kiện (thí dụ từ
61,88% xuống 31,45% cho Agifish, từ 53,96% xuống 38,09% cho Navisfishco) và giữ nguyên
mức 63,88% cho các công ty không tham gia.
Sau đó DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi trồng cá basa tại Việt Nam và đề nghị Việt Nam
thảo luận về thỏa thuận đình chỉ vụ và thay bằng việc áp dụng hạn ngạch và giá đối với việc xuất
khẩu mặt hàng này. Tuy thế tháng 5.2003 thì thỏa thuận về đình chỉ vụ kiện bị đổ vỡ và ngày
17.06, khi đại diện của VASEP có mặt tại phiên họp của ITC để điều trần thì DOC công bố quyết
định mới, tăng trở lên lại, tuy là không nhiều lắm, các biên độ dumping cho hầu hết các công ty,
tiếp tục duy trì tình trạng khẩn cấp đối với công ty Nam Việt và đưa thêm 5 công ty vào trường
hợp này. Bước diễn tiến mới này rất bất lợi, và theo luật sư Lê Công Định, của văn phòng White
& Case bào cãi cho VN, kết luận mới của DOC là một cú sốc đối với tất cả các thành viên trong
đoàn Việt Nam tham dự phiên điều trần trước ITC và đặc biệt là các doanh nghiệp thủy sản đang
làm ăn với Mỹ.
Sau phán quyết cuối cùng này của DOC, kết quả của vụ kiện chỉ còn tuỳ thuộc vào phán quyết
của ITC về vấn đề tổn hại, dựa trên ý kiến của DOC và phần trình bày của hai bên (VASEP và
CFA). Ngày 24.07.2003, ITC đưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng định các doanh nghiệp VN đã
bán với giá thấp hơn giá thành và gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, và ấn định mức thuế
suất bán phá giá từ 36,84 đến 63,88%.
Sự thất bại này tuy thế cũng có mặt tốt. Có thể nói là trong lần đụng độ đầu tiên này, VN đã tiếp
cận vấn đề một cách tích cực và cố gắng giới hạn được phần nào sự tổn thất, dẫu chưa khai thác
được đúng mức các yếu tố thuận lợi và còn non kém trong phong cách lý luận khi ra điều trần
trước DOC và ITC. Nhưng đây cũng là cái giá của kinh nghiệm, như theo lời phát biểu của chủ
tịch VASEP, bà Nguyễn thị Hồng Minh, tháng 02.2003: “Việt Nam thu được nhiều bài học quý từ
vụ kiện cá basa”. Các công ty xuất khẩu Việt Nam đã phải trả 469 đô la một giờ cho một văn
phòng luật sư tại Washington để cãi cho mình trong vụ kiện, trong khi thu nhập của một người
nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long chưa tới 35 đô la một tháng. Kinh phí chi cho vụ kiện
tổng cộng là nửa triệu đô-la. Bài học quý thật, và không thể tránh, nhưng cũng rất đắt. Và thực
tế đã nhanh chóng tạo cơ hội để thử thách sự nhạy bén và khả năng áp dụng kinh nghiệm của
VN.
Ngay sau khi ITC công bố phán quyết cuối cùng, VASEP đã dự trù là sau cá basa, sẽ đến lượt
tôm có thể bị kiện. Cùng với một số nước có thể bị liên can, như Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và
Trung Quốc, ngành tôm VN đã đề ra chương trình hợp tác với các nhà nhập khẩu và phân phối
Mỹ để phản biện các lập luận bán phá giá và tiến hành các cuộc vận động hành lang nhằm tránh
vụ kiện. Ngày 29.12.2003, một nhóm đại diện cho các nhà sản xuất tôm trong 8 tiểu bang Mỹ đệ
đơn lên DOC vả ITC để kiện 6 nước Trung Quốc, Brazil, Ecuador, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam.
Đối với VN, vụ kiện mới khởi xướng này có tầm quan trọng đặc biệt vì tôm là mặt hàng thuỷ sản
xuất khẩu lớn nhất của VN vào thị trường Mỹ, với 466 triệu đô-la năm 2002, tức 49% tổng kim
ngạch xuất khẩu tôm của VN. Doanh số xuất khẩu tôm sang Mỹ gấp 10 lần so với cá basa. Do đó
có thể đo lường được hậu quả của vụ kiện lên hàng trăm ngàn ngư dân VN.
Những vụ kiện bán phá giá cũng cho thấy thế yếu của VN khi còn đứng ngoài Tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Không là thành viên của WTO thì không kiện được Mỹ trước Cơ quan giải
quyết tranh chấp của WTO, không nhờ được WTO xét xử và can thiệp để ép Mỹ phải rút lại các
biện pháp áp thuế AD. Khả năng “kêu oan” trước WTO cho phép các nước thành viên nhỏ hạn
chế tình trạng bị các nước lớn bắt nạt, và thương lượng được các giải pháp ổn thoả, thuận lợi
hơn. Đối với VN, tham gia WTO còn cho phép tránh được một trong những điểm bất lợi chính là
quy chế phi kinh tế thị trường.
Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tất yếu cho sự phát triển của đất nước, là con đường nhiều
chông gai. Một nước nghèo và nhỏ như Việt Nam hơn ai hết cần được bảo vệ bởi những cơ chế
và luật lệ qui định sự đàng hoàng trong các quan hệ thương mại, một sân chơi bình đẳng ít ra là
về nguyên tắc nếu chưa hoàn toàn có trong thực tế. Khung pháp lý của hệ thống thương mại đa
phương, tuy còn nhiều khuyết điểm và vẫn thường xuyên được cải tổ, ngày càng đóng vai trò ấy.

Tình hình trong n ước Việt Nam
Theo Bộ Thuỷ sản, tốc độ xuất khẩu mặt hàng cá tra, basa năm nay đạt mức cao nhất và
tăng toàn diện tại các thị trường. Điều này chứng tỏ cá tra, basa luôn là một trong những
sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Bộ Thủy sản cho biết, năm nay, sản phẩm cá tra, ba sa đạt mức tăng trưởng nhanh nhất. Dự
kiến cả năm, sản lượng cá tra, ba sa xuất khẩu đạt 210.000 tấn, trị giá khoảng 560 triệu USD.
Đáng nổi bật là giá trị kim ngạch xuất khẩu cá tăng mạnh ở hầu hết các thị trường. Cá tra, ba sa
được tiêu thụ mạnh ở EU và Đông Âu. Nga nhập gần 54,9 triệu USD cá tra, ba sa Việt Nam,
bằng 2.751% so với năm 2005. Ba Lan đạt 45 triệu USD, bằng 858% so với năm 2005. Điều này
chứng tỏ thị trường cá tra, ba sa tại Nga, Đông Âu và EU rất có triển vọng.
Nhờ đó, thị trường nguyên liệu cá tra, basa cũng có chuyển biến tích cực. Giá cá tra nguyên liệu
tại các tỉnh ĐBSCL tăng cao. Hiện nay, mức giá cá tra nuôi hầm thịt trắng được DN mua vào từ
13.800-14.500 đồng/kg, cá tra thịt vàng từ 12.500-13.000 đồng/kg. Giá cá cao và đầu ra tốt đã
khuyến khích nhân dân tiếp tục đầu tư mở rộng phát triển nuôi loại cá này.
Sóng gió gây ra từ thị trường Mỹ hồi đầu năm (vụ kiện tôm) và thị trường Nhật Bản cuối năm
(liên quan đến chất lượng sản phẩm) không ảnh hưởng nhiều tới xuất khẩu thủy sản. Nhờ bám
trụ tốt tại các thị trường truyền thống, năng động tại các thị trường mới, giá trị thủy sản Việt Nam
xuất vào Nhật Bản vẫn tăng 30%, Hoa Kỳ 23%, EU 16%
Hiện nay, Nhật Bản vẫn là thị trường đứng đầu về nhập khẩu thủy sản Việt Nam với trên 25% thị
phần; tiếp đó là EU với 21,6%. Hoa Kỳ tụt xuống vị trí thứ ba với gần 20% thị phần. Ngoài ra, thị
trường Hàn Quốc chiếm 6,2% thị phần thủy sản Việt Nam, xếp sau là các nước ASEAN, Trung
Quốc, Nga và các nước khác.
Số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2006, bất chấp những sức ép cạnh tranh và rào cản thương
mại mới, thủy sản Việt Nam vẫn đạt kim ngạch xuất khẩu 3,36 tỷ USD, vượt hơn nửa tỷ USD so
dự kiến kế hoạch năm.
Thứ trưởng Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh cho rằng, sự chủ động đón nhận cơ hội và luôn
luôn đổi mới để bắt kịp xu hướng thị trường thế giới là nguyên nhân chính để kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng này tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây, duy trì thứ hạng cao trong các
mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của cả nước. Riêng năm nay, thuỷ sản đứng thứ 4 trong số 9 mặt
hàng có mặt ở câu lạc bộ 1 tỷ USD.Về mục tiêu đạt 4-4,5 tỷ USD trong năm 2010
Tình hình về các vụ kiện bán phá giá đối với Việt Nam
Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường
nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi
thông qua các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong đó có thuế
chống bán phá giá.Vì vậy, các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế giới ngày càng tăng về
số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá áp dụng.
Theo số liệu của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến hết năm 2004 trên thế giới đả
tiến hành 2647 cuộc điều tra về chống bán phá giá, đứng đầu danh sách là Ấn độ
(399 vụ) Hoa Kỳ (354 vụ) và EU (303 vụ). Trong số 97 nước bị kiện, các nước đứng
đầu là Trung Quốc (386 vụ) Hàn Quốc (94 vụ) Hoa Kỳ (146 vụ) Đối với Việt Nam
tính đến tháng 3/2006 đã phải đối phó với 21 vụ kiện chống bán phá giá, trong đó có
13 vụ Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá. EU là nước khởi kiện Việt Nam
nhiều nhất (8 vụ) với mức thuế cao nhất lên đến 93% đối với mặt hàng Oxyde kẽm.
Điều đáng chú ý là số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá tăng mạnh trong
thời gian gần đây. Nếu trong giai đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ chịu 1-2 vụ
kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối phó với 7 vụ kiện liên tiếp liên quan đến nhiều
mặt hàng công nghiệp xuất khẩu. Ở thời kỳ trước, các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam bị áp dụng thuế chống bán phá giá chưa phải là những mặt hàng chiến lược, vì
vậy ảnh hưởng chưa lớn đến kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Nhưng từ vụ kiện cá
tra, cá ba sa năm 2002 đến nay có thể thấy không chỉ một số mặt hàng xuất khẩu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét