Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty bảo hiểm pjico

-Tàu mất tích: tàu mất tích là hiện tợng tàu không đến đợc cảng quy định và
sau một thời gian hợp lý không nhận đợc tin tức gì về tàu.
Thời gian hợp lý để có thể tuyên bố tàu mất tích tuỳ thuộc vào loại tàu,
loại hàng, tính chất của hành trình và luật của mỗi nuớc. Theo luật hàng hải Việt
Nam năm 1993, thời gian tuyên bố tàu mất tích là 3 lần thời gian hành trình nhng
không lớn hơn 3 tháng (nếu có ảnh hởng của chiến tranh thì không quá 6 tháng ).
Còn theo luật Anh Quốc thì thời gian này không quá 2 lần thời gian hành trình nh-
ng không ít hơn 2 tháng và nhiều hơn 6 tháng.
-Vứt hàng xuống biển: Vứt hàng xuống biển là hành động ném hàng xuống
biển nhằm làm nhẹ tàu hoặc cứu tàu khi gặp nạn. Đây là hành động hy sinh
mang tính tự nguyện xuất phát từ nguyên nhân có nguy cơ đe doạ trực tiếp đến
hành trình của con tàu.
Tuy nhiên, Bảo hiểm không chịu trách nhiệm trong trờng hợp vứt hàng
xuống biển khi tàu gặp nạn, hàng hoá vứt xuống biển do hàng hoá h hỏng bởi nội
tỳ bản chất hàng hoá hay do không xếp đúng với tập quán quy định.
Điều cần lu ý trong rủi ro này là tuần tự thực hiện "vứt hàng xuống biển
"khi tàu gặp nạn, hàng hoá vứt xuống biển trớc tiên phải là hàng hoá xếp trên
boong hoặc gần nơi bị cháy.
-Mất cắp và giao thiếu hàng:
Mất cắp chỉ sự mất cắp nguyên đai,nguyên kiện hoặc hàng bên trong bao,
kiện bị mất, hành động ăn cắp này có tính chất bí mật.
Giao thiếu hàng là hiện tợng toàn bộ lô hàng hay một số kiện hàng không
đợc giao tại cảng đến và không có dẫn chứng về nguyên nhân tổn thất.
Trong tròng hợp này bảo hiểm sẽ bồi thờng nếu chủ hàng chứng minh đợc
hàng hoá đó đã đợc xếp lên tàu. Việc giao thiếu hàng do hao hụt tự nhiên, bao bì
rách vỡ kém phẩm chất không thuộc rủi ro này. Ngày nay rủi ro mất cắp và giao
hàng thiếu đợc mở rộng với cả cớp biển.
5
-Hành vi phi pháp của thuyền trởng và thuỷ thủ đoàn.
Hành vi phạm pháp này bao hàm ý đồ xảo trá hay lừa gạt hoặc cố ý gây
tổn thất với con tàu và hàng hoá chuyên chở có hại cho chủ tàu hoặc ngời thuê tàu.
Hành vi phi pháp có thể là: buôn lậu, làm đắm tàu, làm chậm trễ hành trình, đốt
cháy làm h hỏng hàng hoá, vi phạm pháp luật Tuy nhiên những hành vi vi phạm
trên của thuyền trởng, thuyền viên thực hiện theo lệnh của chủ tàu, chủ hàng thì
bảo hiểm sẽ không bồi thờng cho các tổn thất do hành vi đó gây nên.
* Rủi ro không đợc bảo hiểm( còn đợc gọi là rủi ro loại trừ): Là các rủi ro
không đợc bảo hiểm trong bất kỳ một đơn bảo hiểm nào, bao gồm các sai sót của
bản thân ngời đợc bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ xuất
nhập khẩu hoặc vận chuyển, chậm trễ hoặc mất giá trị hàng trên thị trờng
* Rủi ro đợc bảo hiểm trong trờng hợp đặc biệt: Rủi ro chiến tranh, đình
công, bạo loạn( gọi chung là rủi ro chiến tranh) thờng không đợc nhận bảo
hiểm, nhng nếu chủ hàng có yêu cầu sẽ đợc nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông
thờng đợc bảo hiểm với điều kiện trả thêm phụ phí đặc biệt chứ không nhận bảo
hiểm riêng rủi ro chiến tranh
Các rủi ro đợc bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất .
Việc phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan
trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro đợc bảo hiểm hay không.
Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro đợc bảo hiểm gây ra mới đ-
ợc bồi thờng.
2. Các loại tổn thất
Trong quá trình vận chuyển, khi gặp rủi ro, hàng hoá xuất nhập khẩu có thể
bị h hỏng, thiệt hại theo các mức độ nặng nhẹ khác nhau. Việc xác định mức độ
thiệt hại theo các căn cứ khác nhau sẽ cho thấy rõ hơn trách nhiệm của nhà bảo
hiểm đối với tổn thất về hàng hoá.
Căn cứ vào quy mô và mức độ tổn thất, có hai loại là tổn thất bộ phận và
tổn thất toàn bộ.
6
Tổn thất bộ phận: Tổn thất bộ phận là một phần của đối tợng bảo hiểm
theo một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, h hỏng thiệt hại.
Tổn thất bộ phận có thể là:
-Tổn thất toàn bộ của một phần hàng hoá.
-Giảm về trọng lợng, số lợng hàng hoá.
-Giảm về thể tích, phẩm chất hàng hoá.
-Giảm về giá trị hàng hoá.
Những tổn thất này sẽ đợc ngời bảo hiểm bồi thờng nếu nguyên nhân của
nó là rủi ro đợc bảo hiểm.
Tổn thất toàn bộ: tổn thất toàn bộ là toàn bộ đối tợng đợc bảo hiểm theo
một hợp đồng bảo hiểm bị h hỏng, thiệt hại.
Tổn thất toàn bộ có hai loại: Tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn bộ ớc
tính.
-Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn bộ đối tờng đợc nh theo một hợp đồng bảo
hiểm bị h hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn nh
lúc mới đợc bảo hiểm hay bị mất đi, bị tớc đoạt không lấy lại đợc nữa. Chỉ có
tổn thất toàn bộ thực tế trong bốn trờng hợp sau:
+ Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn
+ Hàng hoá bị tớc đoạt không lấy lại đợc
+ Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm
+ Hàng hoá ở trên tàu mà tàu đợc tuyên bố là mất tích.
-Tổn thất toàn bộ ớc tính: là trờng hợp đối tợng đợc bảo hiểm bị thiệt hại,
mất mát cha tới mức độ tổn thất toàn bộ thực tế, nhng không tránh khỏi tổn thất
toàn bộ thực tế, hoặc nếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có
thể bằng hoặc lớn hơn giá trị bảo hiểm. Chẳng hạn: một tàu chở cà phê xuất
7
khẩu từ Đà Nẵng sang Nhật Bản, trên hành trình, tàu gặp bảo lớn, cà phê bị vón
cục ( bị tổn thất toàn bộ ớc tính) nếu tàu tiếp tục hành trình đến nhật thì cà phê
sẽ bị hỏng toàn bộ (do không còn giá trị trơng mại), nh vậy tổn thất toàn bộ
thực tế là không tránh khỏi.
Trong trờng hợp tổn thất toàn bộ ớc tính xảy ra ngời đợc bảo hiểm cần báo
ngay cho ngời bảo hiểm và thông báo từ bỏ hàng, đồng thời áp dụng các biện pháp
cần thiết để hạn chế tổn thất cho đến khi nhận đợc sự chấp thuận của ngời bảo
hiểm.
Nếu phân loại theo quyền lợi bảo hiểm thì tổn thất bao gồn tổn thất chung
và tổn thất riêng.
Tổn thất riêng: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền
lợi của chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu.
Nh vậy tổn thất riêng chỉ liên quan đến từng quyền lợi riêng biệt. Trong
tổn thất riêng, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phí liên quan đến tổn
thất riêng nhằm hạn chế những h hại khi tổn thất khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất
chi phí riêng.
Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt h
hại hoặc để khỏi h hại thêm, bao gồm chi phí xếp dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay
thế bao bị ở bến khởi hành và dọc đờng. Chi phí tổng thất riêng làm hạn chế và
giảm bớt tổn thất riêng.
Tổn thất riêng chỉ liên quan đến quyền lợi riêng biệt nên nó có thể là tổn
thất bộ phận hay tổn thất toàn bộ.
Tổn thất chung: là những hy sinh hay chi phí đặc biệt đợc tiến hành một
cách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi
mộ sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng.
Muốn có tổn thất chung phải có hành động tổn thất chung., hành động tổn
thất chung xẩy ra khi và chỉ khi có hy sinh hoặc chi phí bất thờng đơc tiến hành
8
một cách cố ý và hợp lý vì an toàn chung nhằm cứu tài sản khỏi một tai hoạ trong
một hành trình chung trên biển.
Một thiệt hại, chi phí hoặc một hành động muốn đợc coi là tổn thất chung
phải có các đặc trng sau đây:
-Hành động tổn thất chung phải là hành động tự nguyện, hữu ý của thuyền
trởng và thuyền viên trên tàu.
-Hy sinh, hoặc chi phí phải là đặc biệt.
-Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vị an toàn chung cho tất cả các quyền
lợi trong hành trình.
-Tai hoạ phải thực sự xảy ra và nghiêm trọng.
-Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổn
thất chung.
-Tổn thất chung phải xảy ra trên biển.
Tổn thất chung bao gồm hai mặt cơ bản là chi phí tổn thất chung và hy
sinh tổn thất chung.
+ Hy sinh tổn thất chung: là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực
tiếp của một hành động tổn thất chung. Nh thiệt hại do vứt hàng xuống biển vì an
toàn chung, đốt vật phẩm trên tàu làm nhiên liệu, tự ý cho tàu mắc cạn để tránh
một tại nạn, thiệt hại do máy tàu làm việc quá sức để rút tàu ra khỏi cạn
+ Chi phí tổn thất chung: là những chi phí trả cho ngời thứ ba trong việc
cứu tàu, hàng, cớc phí thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình.
Chi phí tổn thất chung bao gồm:
-Chi phí cứu nạn
-Chi phí làm nổi tàu khi đã mắc cạn, chi phí thuê kéo, lai dắt tàu khi bị nạn
-Chi phí tại cảng lánh nạn: Nh chi phí ra vào cảng lánh nạn, chi phí dỡ hàng,
nhiên liệu vì an toàn chung hoặc để sửa chữa tạm thời, chi phí tái xếp hàng,
9
lu kho hàng hoá, tiền lơng của thuyền trởng và thuyền viên, lơng thực thực
phẩm, nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn. Nếu tàu bị từ bỏ hoặc không tiếp
tục hành trình đợc nữa thì tiền lu kho hàng hoá, tiền lơng của thuyền trởng và
thuyền viên, lơng thực thực phẩm, nhiên liệu, cảng phí chỉ đợc công nhận là tổn
thất chung cho đến ngày tàu bị từ bỏ hoặc ngày dỡ xong hàng, nếu ngày dỡ
xong hàng xảy ra sau.
-Tiền lãi của số tiền đợc công nhận là tổn thất chung, với lãi suất là 7%
/năm đợc tính cho hết ba tháng sau ngày phát hành bản phân bổ tổn thất chung.
Khi xảy ra tổn thất chung, chủ ràu hoặc thuyền trởng phải tiến hành một
số công việc sau:
-Tuyên bố tổn thất chung
-Mời giám định viên để giám định tổn thất của tàu và hàng
-Gửi th cho các chủ hàng bản cam đoan đóng góp vào tổn thất chung để chủ
hàng và ngời bảo hiểm điền vào và xuất trình khi nhận hàng
-Chỉ định một chuyên viên tính toán, phân bổ tổn thất chung
-Làm kháng nghị hàng hải (nếu có liên quan đến ngời thứ ba
Nhiệm vụ của chủ hàng khi xảy ra tổn thất chung là:
-Kê khai giá trị hàng hoá nếu chủ tàu yêu cầu.
-Nhận bản cam đoan đóng góp vào tổn thất chung, điền vào và gửi cho ngời
bảo hiểm. Ngời bảo hiểm sẽ ký vào giấy cam đoan đóng góp tổn thất chung và
trả lại cho chủ hàng để nhận hàng. Nếu hàng không đợc bảo hiểm thì chủ hàng
phải ký quỹ bằng tiền mặt hoặc xin bảo lãnh của ngân hàng, thuyền trởng mới
giao hàng. Nói chung khi có tổn thất xảy ra ngời đợc bảo hiểm phải báo các
cho ngời bảo hiểm để đợc hớng dẫn làm thủ tục, không tự ý ký vào bản cam
đoan đóng góp tổn thất chung.
Tổn thất chung và tổn thất riêng có những điểm khác nhau:
10
Mức so sánh
Tổn thất riêng Tổn thất chung
Tính chất
Ngẫu nhiên
Cố tình, cố ý
Nguyên nhân Thiên tai, tai nạn
Cứu tàu và hàng trớc
thảm hoạ
Hậu quả
Tổn thất quyền lợi của
ai, ngời đó chịu
Có sự đóng góp vào tổn
thất của tất cả các bên
Trách nhiệm bồi th-
ờng của bảo hiểm
Tuỳ từng điều kiện
mà đợc bảo hiểm
Với mọi điều kiện bảo
hiểm đều đợc bảo hiểm
Luật giải quyết tổn thất chung.
Khi có tổn thất chung, các quyền lợi trong hành trình có trách nhiệm đóng
góp vào tổn thất chung. Nhng phân bổ, đóng góp nh thế nào, theo tiêu chuẩn, quy
tắc nào thì các bên phải thoả thuận trong hợp đồng vận tải. Cho đến nay hầu hết
các vận đơn đờng biển và hợp đồng thuê tàu đều quy định ( trong điều khoản tổn
thất chung ) là khi có tổn thất chung xảy ra sẽ giải quyết theo quy tắc York-
Antwerp 1974 sau đó đợc sửa đổi vào các năm 1990 và 1994.
Việc phân bổ tổn thất chung đợc thực hiện theo các bớc sau:
Bớc 1: Xác định giá trị tổn thất chung (Gt)
Giá trị tổn thất chung bao gồm giá trị tài sản hy sinh tổn thất chung và chi
phí tổn thất chung.
Bớc 2: Xác định tỷ lệ phân bổ tổn thất chung (t)
Tỷ lệ phân bổ tổn thất chung là tỷ lệ (%) giữa giá trị tổn thất chung và giá
trị chịu phân bổ tổn thất chung(Gb).
Ta có: t = Gt *100 / Gb
Trong đó giá trị chịu phân bổ tổn thất chung (Gb) là giá trị của tất cả các
quyền lợi có mặt trên tàu ngay trớc khi xảy ra hành động tổn thất chung.
Công thức xác định Gb:
11
Gb =
Giá trị của tàu,hàng
khi cha có tt
-
Giá trị tổn thất riêng xảy
ra trớc tổn thất chung
Hoặc:
Gb =
Giá trị của tàu,
hàng
Khi về đến
bến
-
Giá trị
tổn
Thất
chung
-
Giá trị tổn thất
riêng
xảy ra sau tổn thất
chung
Bớc 3: Xác định số tiền đóng góp tổn thất chung của mỗi bên.
Công thức:
Số tiền đóng góp tổn
Thất chung mỗi bên
=
Giá trị chịu phân bổ
Tổn thất chung mỗi bên
*
Tỷ lệ phân bổ tổn
Thất chung
Trong đó giá trị chịu phân bổ tổn thất chung của mỗi bên đợc xác định t-
ơng tự nh công thức ở bớc 2, nhng chỉ các định các giá trị này riêng biệt cho từng
quyền lợi của chủ tàu hoặc chủ hàng.
Vì giá trị tổn thất chung đợc phân bổ theo tỷ lệ quyền lợi của mỗi bên, nên
sau khi phân bổ tổn thất chung, tổng số tiền đóng góp tổn thất chung của chủ tàu
và chủ hàng bằng đúng bằng giá trị tổn thất chung.
3. Hợp đồng bảo hiểm
3.1 Định nghĩa và tính chất của hợp đồng bảo hiểm
* Định nghĩa: Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản trong đó ngời bảo hiểm
cam kết bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm những mất mát, thiệt hại của đối tợng
bảo hiểm do rủi ro đợc bảo hiểm gây nên, còn ngời đợc bảo hiểm cam kết trả phí
bảo hiểm.
Tính chất: Hợp đồng bảo hiểm mang tính chất là một hợp đồng bồi thờng
và là một hợp đồng tín nhiệm.
Tính bồi thờng thể hiện ở sự cam kết trong hợp đồng.
Tính tín nhiệm thể hiện ở:
12
Phải có lợi ích bảo hiểm mới đợc ký kết hợp đồng bảo hiểm. Lơi ích không
nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng nhng phải có khi xảy ra tổn thất.
Ngời đợc bảo hiểm phải thông báo mọi chi tiết về hàng hoá, mọi thay đổi
rủi ro mà mình biết cho ngời bảo hiểm.
Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nếu hàng hoá đã bị tổn thất mà ngời đợc
bảo hiểm đã biết thì hợp đồng bảo hiểm sẽ vô hiệu. Ngợc lại nếu ngời đợc bảo
hiểm cha biết thì hợp đồng bảo hiểm vẫn có hiệu lực và vẫn đợc bồi thờng.
Hợp đồng bảo hiểm coi nh đợc ký kết khi ngời bảo hiểm chấp nhận băng
văn bản. Văn bản đó là đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
3.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm có 2 loại: hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo
hiểm bao.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến (Voyage policy): Hợp đồng bảo hiểm chuyến
là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng từ một nơi này đến một nơi khác
ghi trên hợp đồng bảo hiểm. Trách nhiệm của ngời bảo hiểm theo hợp đồng bảo
hiểm chuyến bắt đầu và kết thúc theo điều khoản "từ kho đến kho".
Hợp đồng bảo hiểm chuyến đợc trình bày dới hình thức đơn bảo hiểm hay
giấy chứng nhận bảo hiểm do ngời bảo hiểm cấp. Đơn bảo hiểm chính là một Hợp
đồng bảo hiểm chuyến đầy đủ. Nội dung gồm hai phần: mắt trớc và mặt sau của
đơn bảo hiểm. Mặt trớc thờng ghi các chi tiết về hàng, tàu, hành trình. Mặt sau th-
ờng ghi các điều lệ hay qui tắc bảo hiểm của Công ty bảo hiểm.
Nội dung chủ yếu của Hợp đồng bảo hiểm gồm:
-Tên, địa chỉ của ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm.
-Tên hàng, số lợng, trọng lợng, số vận đơn, số hợp đồng.
-Tên tàu, ngày khởi hàng.
-Cảng đi, cảng đến, cảng chuyển tải.
13
-Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm.
-Điều kiện bảo hiểm (ghi rõ Quy tắc nào, của nớc nào).
-Tỷ lệ phí bảo hiểm, phí bảo hiểm.
-Nơi và cách thức bồi thờng.
-Ngày tháng, chữ ký của Công ty bảo hiểm.
Mặt hai in sẵn Quy tắc, thể lệ bảo hiểm của Công ty bảo hiểm có liên
quan.
Giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ có nội dung nh mặt một của đơn bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm bao.
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm trong đó ngời bảo hiểm
nhận bảo hiểm một khối lợng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau
trong một thời gian nhất định (thờng là một năm) hoặc nhận bảo hiểm cho một l-
ợng hàng vận chuyển nhất định (không kể thời gian).
Nội dung Hợp đồng bảo hiểm bao gồm các vấn đề chung nhất, có tính
nguyên tắc nh: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việc đóng gói hàng, loại
phơng tiện vận chuyển, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và
thánh toán phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồi thờng, hiệu lực hợp đồng,
xử lý tranh chấp
Trong Hợp đồng bảo hiểm phải có ba điều kiện cơ bản sau:
-Điều kiện xếp hạng tàu đợc thuê chuyên chở hàng hoá đợc bảo hiểm. Tàu
phải có khả năng đi biển bình thờng và tuổi tàu thấp ( dới 15 tuổi).
-Điều kiện về giá trị bảo hiểm: ngời đợc bảo hiểm phải kê khai giá trị hàng
theo từng chuyến về số kiện, giá CIF hoặc FOB, số hợp đồng mua bán, số th tín
dụng, số vận đơn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét