Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
c. Mặt chủ quan của người phạm tội
Người phạm tội có lỗi cố ý,trong trường hợp theo khoản 3 Điều 104 BLHS thì
dấu hiệu ý chí trong lỗi cố ý ở đây chỉ là mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả
thương tích xảy ra chứ không mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả chết người
xảy ra.
IV. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ
1. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoan nguy hiểm gây nguy hại
cho nhiều người (theo điểm a khoản 1 Điều 104)
Hung khí nguy hiểm chính là phương tiện mà người phạm tội thực hiện để
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của khác, nhưng phương tiện đó
mang tính chất nguy hiểm như dao, các loại lê, các loại súng, lựu đạn, thuốc nổ,
axit…
Hung khí nguy hiểm là bản thân nó chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm đến
tính mạng, sức khỏe, nó hoàn toàn phụ thuộc vào cách sử của người phạm tội.
Thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người như đốt cháy đầu độc, bắn vào chỗ
đông người. Thủ đoạn là do người phạm tội thực hiện. do đó tính chất nguy
hiểm phụ thuộc vào hành vi phạm tội chứ không phụ thuộc vào phương tiện mà
người phạm tội sử dụng.
2. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân( Điểm b khoản 1 Điều 104)
Cố tật là một tật trên cơ thể con người không bao giờ chữa khỏi.Cố tật nhẹ là tật
không chữa khỏi, nhưng tỷ lệ thương tích chỉ dưới 11%.
Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định gây cố tật nhẹ, trong khi đó thực tiễn xét
xử có nhiều trường hợp người bị hại bị cố tật nặng, thậm chí rất nặng như bị mù
cả hai mắt, cụt cả hai tay, hai chân, bị liệt toàn thân, bị bỏng nặng ở diện 80% và
độ 2-3… Các trường hợp quy định tại các khoản 2 và 3 và khoản 4 Điều 104 Bộ
luật hình sự chỉ quy định tỷ lệ thương tật và nếu tỷ lệ thương tật dưới mức quy
định mà gây cố tật nhẹ thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự. Cách quy định này tuy thuận
tiện cho việc áp dụng Điều 104 Bộ luật hình sự đối với hành vi cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng sẽ không phù hợp với
một số trường hợp thực tế xảy ra.Ví dụ như: Một người bị đánh mù một mắt,
phải khoét bỏ con mắt đó có tỷ lệ thương tật là 45%. Nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ
thương tật thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều
104, nhưng người bị hại bị cố tật nên người phạm tội phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Nhưng bị khoét bỏ một
con mắt thì không thể coi là cố tật nhẹ được.
Để tránh tình trạng đánh gias khác nhau về mức độ cố tật, Điểm b khoản 1
Điều 104 chỉ nên quy định: “gây cố tật mà không cần phải quy định “ gây cố tật
nhẹ”. Hy vọng rằng khi sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999, vấn đề này
sẽ được các nhà làm luật quan tâm.
3. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nhiều lần đối với cùng
một người hoặc đối nhiều người(Điểm c khoản Điều 104)
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nhiều lần đối với cùng một
người là trường hợp một người hoặc nhiều người cùng cố ý gây thương tích
hoặc gây sức khỏe của một người nhưng hành vi gây thương tích đó được diễn
ra từ hai lần trở lên không kể khoảng cách thời gian là bao lâu.Ví dụ: A đấm
nhiều cái vào mắt của B bị chảy máu, nhưng tỷ lệ thương tật của B chỉ có 8%
nhưng A vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật
hình sự vì A gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của B nhiều lần.
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người là trường hợp
có từ hai người trở lên nhưng tỷ lệ thương tật của mỗi người chưa tới 11%. Ví
dụ A đánh B và C trong đó tỷ lệ thương của B là 5% của B là 4% nhưng A vẫn
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.
4. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe đối với trẻ em, phụ nữ có
thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự
vệ( điểm d khoản 2 Điều 104)
Đây là trường hợp phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu,
ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ. Tội phạm mà người phạm tội thực
hiện ở đây là tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Cần phân biệt trường hợp phạm tội với trường hợp”phạm tội mà biết”quy
định tại khoản b khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự về trường hợp” giết phụ nữ mà
biết có thai”. Do đó chỉ cần xác định người bị hại là trẻ em, là phụ nữ đang có
thai , là người già yếu, là người không có khả năng tự vệ mà tỷ lệ thương tật của
những người này dưới 11% là người phạm tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự rồi.
5. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe đối với ông, bà, cha, mẹ,
người nuôi dưỡng, thầy cô giáo của mình ( điểm đ khoản 2 Điều 104)
Trường hợp phạm tội này hoàn toàn tương tự như trường hợp phạm tội quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự quy định về tội giết người, chỉ khác
nhau ở chỗ trường hợp phạm tội này người phạm tội chỉ gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà người đó là ông, bà, cha, mẹ, thầy
cô giáo của mình mà tỷ lệ thương tật của người bị hại chưa đến 11%.
6. Phạm tội có tổ chức ( điểm e khoản 2 Điều 104)
Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội quy định tại
điểm o khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự về tội giết người, chỉ khác nhau ở chỗ
trường hợp phạm tội này những người phạm tội chỉ gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật của người bị hại chưa
đến 11%.
7. Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc đang bị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục ( điểm g khoản 2 Điều 104)
Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong thời
gian bị tạm giam, tạm giữ hoặc đang bị áp dụng biện pháp /
đưa vào cơ sở giáo dục được coi là trường hợp phạm tội nghiêm trọng hơn, vì họ
đang bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, hoặc đang bị quản
lý mà họ vẫn phạm tội, nên người phạm tội tuy gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe cho người bị hại với tỷ lệ thương tật chưa đến 11% vẫn bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Đang bị tạm giữ là đang bị giữ trong nhà tạm giữ của cơ quaqn công an hoặc
cơ quan điều tra hình sự quân đội theo lệnh tạm giữ của người có thẩm quyền,
trong thời gian đang bị tạm giữ lại cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức
khỏe của người khác trong nhà tạm giam.
Đang bị tạm giam là đang bị giam trong nhà tạm giam của công an hoặc cơ
quan điều tra hình sự quân đội theo lệnh tạm giam của người có thẩm quyền,
trong thời gian đang bị tạm giam lại cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trong nhà tạm giam.
Đang bị áp dụng đưa vào cơ sở giáo dục là đang bị giáo dục trong các cơ sở
giáo dục của bộ công an như: Trường giáo dưỡng, các trung tâm cải tạo do Bộ
công an quản ly…
Không coi là phạm tội trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam hoặc bị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục nếu như người bị tạm giữ tạm giam hoặc đang
bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đã bỏ trốn khỏi nhà tạm giữ, nhà
tạm giam hoặc cơ sở giáo dục.
8. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê.
Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp thuê giết người quy
định tại điểm m khoản 1 Điều 93, chỉ khác nhau ở chỗ người phạm tội trong
trường hợp này chỉ thuê người khác gây thương tích hoặc được người khác thuê
gây thương tích. Người thuê và người được thuê gây thương tích cho người khác
đều được coi là nghiêm trọng hơn trường hợp gây thương tích bình thường nên
người bị hại chỉ thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe dưới 11% thì người phạm
tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.
9. Phạm tội có tính chất côn đồ hoặc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm
( điểm i khoản 2 Điều 104)
Cả hai trường hợp phạm tội này, các dấu hiệu đều tương tự với trường hợp phạm
tội giết người có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm n
và điểm p khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự chỉ khác ở chỗ hai trường hợp phạm
tội này nạn nhân chỉ bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe và người phạm tội
cũng chỉ mong muốn như vậy.Nếu nạn nhân chết là ngoài sự mong muốn của
người phạm tội.
10. Gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe để cản trở người thi hành
công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân ( Điểm k khoản 2 Điều 104)
a. Để cản trở người thi hành công vụ.
Đây là trường hợp tương tự với trường hợp giết người đang thi hành công vụ
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự chỉ khác nhau ở chỗ nạn
nhân trong trường hợp này chỉ bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe chứ
không bị chết và người phạm tội cũng chỉ mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn
nhân bị thương chứ không mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết. Tuy
nhiên, trong trường hợp phạm tội này người phạm tội gây thương tích cho nạn
nhân là để cản trở việc thi hành công vụ của họ.
b. Vì lý do công vụ của nạn nhân.
Trường hợp phạm tội này hoàn toàn tương tự với trường hợp giết người vì lý
do công vụ của nạn nhân quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự
chỉ khác nhau ở chỗ trường hợp này nạn nhân chỉ bị thương hoặc bị tổn hại đến
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
sức khỏe chứ không mong muốn cho nạn nhân bị chết. Nếu nạn nhân chết là
ngoài sự mong muốn của người phạm tội.
Các trường hợp phạm tội trên nếu thương tích của người bị hại dưới 11% thì
người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thương tích của người bị hại
từ 11 đến 30% thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2
Điều 104 Bộ luật hình sự,nếu thương tích của người bị hại 31% đến 60% thì
người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 104.
Nếu không thuộc một trong các trường hợp nói trên mà tỷ lệ thương tật của
người bị hại dưới 11% thì người phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự,
nếu tỷ lệ thương tật của người bị hại từ 11% đến 30% thì người phạm tội bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự, nếu tỷ lệ
thương tật của người bị hại từ 31% đến 60% thì người phạm tội bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự, nếu tỷ lệ thương tật của
người bị hại từ 61% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự.
11.Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫm
đến chết người:
Đây là trường hợp người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
đến sức khỏe của nạn nhân, nhưng chẳng may nạn nhân bị chết, cái chết của nạn
nhân là ngoài ý muốn của người phạm tội.
12.Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng:
Thực tiễn xét xử cho thấy ngoài trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết người thì trong thực tế còn có một
số trường hợp mặc dù thương tích mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân chưa
phải là nặng thậm chí không đáng kể, nhưng tính chất của tội phạm rất nghiêm
trọng. Chính vì vậy tại kỳ họp thứ sáu quốc hội khóa 8 đẫ bổ xung trường hợp
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng vào khoản 3 điều 109 bộ luật hình sự 1985 để
đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với những trường hợp phạm tội nghiêm trọng này
.Sau khi quốc hội đẫ bổ xung vào khoản 3 điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985
tình tiết “ phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng “,tuy chưa có văn
bản nào hướng dẫn trường hợp cố ý gây thương tích thế nào là thuộc trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng ,nhưng thực tiễn xét xử ,các cơ quan tiến hành tố tụng đã
coi các trường hợp phạm tội sau đây là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng:
Chương II.
Thực trạng tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện:
1.Quá trình thu thập thông tin
Thực hiện theo sự phân công thực tập của Trường Đại học Luật Hà Nội, em đã
thực tập Thành phố Hà Nội. Trong gần 04 thực tập, với 28 ngày nghiên cứu hồ
sơ, 9 ngày tham dự phiên xét tại Tòa đã cem cái nhìn tổng quan về tình hình
phạm tội tại địa phương cũng như quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân huyện
Phú Xuyên. Đặc biệt qua nhều lần đi tống đạt giấy tờ, nhiều buổi tham dự phiên
tòa xét xử lưu động đã giúp em có thêm nhiều kiến thức thực tế kiểm nghiệm
những kiến thức đã tích lũy được trong suốt thời gian học tập tai trường. Cũng
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
qua kỳ thực tập, em đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm về học tập và nghiên
cứu pháp luật.
Với mong muốn tìm hiểu về tội cố ý gây thương tích và thực tiễn xét xử
tội phạm này tại Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên – nơi em đã thực tập trong
thời gian qua, bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh em đã đi sâu làm
rõ vấn đề này. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, sổ thụ lý vụ án các năm 2005, 2006
và 2007 em đã bước đầu có nhìn nhận, đánh giá loại tội phạm này ở địa
phương.
2. Một số vụ án cụ thể về tội cố ý gây thương tích
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, trong năm 2008,
tại địa bàn huyện đã có 04 vụ án xét xử được thay đổi tội danh từ "Giết người"
chuyển sang "Cố ý gây thương tích", trong đó có nhiều vụ án đã có hiệu lực
pháp luật, nhiều vụ trả hồ sơ điều tra bổ sung và dẫn đến đình chỉ vụ án.
Hậu quả của việc định tội danh sai dẫn đến truy tố và xét xử bị cáo nặng hơn
trách nhiệm hình sự mà họ phải chịu theo pháp luật, có trường hợp không phải
chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi không cấu thành tội phạm hoặc không có
hành vi phạm tội.
Thậm chí có trường hợp xét xử về tội "Giết người" thì bị cáo phải chịu hình phạt
khá cao nhưng nếu đánh giá chính xác là tội "Cố ý gây thương tích" thì bị cáo đó
không phải chịu trách nhiệm hình sự vì chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình
sự.
Đó là chưa nói đến nhiều trường hợp từ tội danh "Giết người" chuyển sang tội
"Cố ý gây thương tích", nếu chỉ đủ cơ sở để xét xử theo khoản 1 Điều 104 Bộ
luật Hình sự thì lại vướng thủ tục tố tụng là chỉ được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại.
Theo Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên a công tác xét xử thời gian qua cho
thấy, việc xác định tội danh "Giết người" và các tội danh khác có dấu hiệu tương
tự như tội "Giết người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng", "Giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" cũng gặp nhiều khó khăn, gây
tranh cãi và thông thường thì Hội đồng xét xử theo tội danh mà Viện Kiểm sát
truy tố.
Đối với những tội danh khác có liên quan thì những khái niệm "bị kích động
mạnh", "phòng vệ chính đáng" tuy các văn bản pháp luật có đề cập đến nhưng
khi áp dụng vào thực tiễn thì cũng không được hiểu và vận dụng thống nhất.
Còn theo phân tích của Tòa hình sự - TAND Tối cao, nguyên nhân dẫn đến định
tội danh sai là do những loại tội phạm này có một số đặc điểm giống nhau hoặc
tương tự nhau dễ gây nhầm lẫn dẫn đến có những cách hiểu khác nhau khi áp
dụng luật đối với vụ án cụ thể. Nhưng cũng không loại trừ khả năng chuyên môn
của một số thẩm phán còn hạn chế, không nắm vững các yếu tố cấu thành, dấu
hiệu đặc trưng của một số loại tội phạm cụ thể, đánh giá thiếu chính xác các tình
tiết của vụ án…
Theo vị thẩm phán này, để định tội danh trong các vụ án gây thiệt hại về tính
mạng sức khỏe, trước hết Hội đồng xử án phải căn cứ vào ý thức chủ quan của
người phạm tội, động cơ mục đích, căn cứ vào lời khai của bị cáo… để định tội.
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Trường hợp nếu vẫn chưa đủ chứng cứ thì hung khí, vị trí tấn công, mức độ
quyết liệt của hành vi tấn công, lực tấn công và hậu quả thực tế xảy ra… là
những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá, xác định ý thức chủ quan
(động cơ, mục đích phạm tội) của bị cáo
Sau đây là tình hình thực tế về việc xét xử tội cố ý gây thương tích cho người
khác trên địa bàn huyện qua các năm 2006, 2007 và năm 2008 cuả Tòa án nhân
dân huyện Phú Xuyên.
Năm 2006
Tổng số thụ lý là 36 vụ với 53 bị cáo, trong đó án dân sự là 08 vụ, án hôn nhân
và đình 17 vụ, án kinh tế 03 vụ, án hành chính 01 vụ còn án hình sự là 07 vụ với
25 bị cáo.
Giải quyết 30 vụ với 46 bị cáo.
Còn 06 vụ với 07 bị cáo
Bằng các biện pháp:
Xét xử = 27 vụ với 42 bị cáo
Đình chỉ =2vụ với 03 bị cáo
Hoãn VKS = 01 vụ với 01 bị cáo
Trong đó: Giam 21bị cáo.
Treo 19 bị cáo
Cải tạo không giam giữ 01 bị cáo
Cảnh cáo 01 bị cáo
Phạt tiền 04 bị cáo.
Thẩm phán giải quyết:
Đồng chí Hưng 05 vụ = 10 bị cáo
Đồng chí Phong 07 = 09 bị cáo
Đồng chí Quang 10 vụ = 11 bị cáo
Đồng chí Nội 05 vụ = 06 bị cáo
Đồng chí Nguyện 09 vụ = 17 bị cáo
Còn 01 vụ = 01 bị cáo
02 vụ = 03 bị cáo
02 vụ = 02 bị cáo
Năm 2007
Tổng số thụ lý 88 vụ = 131 bị cáo
Cũ chuyễn 06 vụ = 07 bị cáo
Trong đó án hình sự là 63 vụ, với 120 bị cáo, án dân sự 09 vụ, án hôn nhân gia
đình 11 vụ, án kinh tế 01 vụ.
Tổng 94 vụ = 138 bị cáo
Giải quyết 94 vụ = 138 bị cáo
Bằng các biện pháp
Xét xử 87 vụ = 129 bị cáo
Đình chỉ 04 vụ = 05 bị cáo
Hoãn VKS 03 vụ = 04 bị cáo
Án giam 74 bị cáo
Án treo 54 bị cáo
Cảnh cáo 01c bị cáo
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Thẩm phán giải quyết
Đồng chí Hưng 17 vụ = 19 bị cáo
Đồng chí Phong 20 vụ = 28 bị cáo
Đồng chí Nội 20 vụ = 29 bị cáo
Đồng chí Quang 17 vụ = 31 bị cáo
Đồng chí Nguyện 20 vụ = 31 bị cáo
Năm 2008
Sổ thụ lý án hình sự từ 01/ 08/2008
Theo công văn số 98 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ( TANDTPHN)
Thụ lý hồ sơ số 28 ngày 28 tháng 11 năm 2008
Tổng số bị can bị cáo trong vụ án
Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1971
Thôn Cổ Trai – Đại Xuyên – Phú Xuyên – Hà Nội
Cáo trạng 45/ KSĐT – TA. 28/11/2008
Khoản 02 Điều 104 Bộ luật hình sự” tội cố ý gây thương tích” – Bản án sơ
thẩm
Thụ lý hồ sơ 32 ngày 31 tháng 12 năm 2008
Họ và tên bị can bị cáo trong vụ án
Tổng số bị can bị cáo 01
Nguyễn Đức Duy sinh năm 1976
Nguyễn Thanh Nam sinh năm 1971
Đều trú tại thôn Bối Khê – Xã Chuyên Mỹ - huyện Phú Xuyên – Thành Phố
Hà Nội.
Cáo trạng 02/ KSĐT – TA. Ngày 30 tháng 12 năm 2008
Khoản 02 Điều 104 Bộ luật hình sự” cố ý gây thương tích”
Trả hồ sơ VKS: 02 ngày 26/ 02/ 2009
Trong số trên năm 2006, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên đã xét xử 04 vụ
về tội cố ý gây thương tích, năm 2007 là 09 vụ và năm 2008 là 11 vụ về tội
cố ý gây thương tích.
Trong ngày 23 tháng 09 năm 2007 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú
Xuyên – tỉnh Hà Tây đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số
49/2007/HSST ngày 22/ 08/ 2007 đối với các bị cáo:
1.Trần Văn Toàn ( tức Trần Tuấn Toàn) sinh năm 1987 trú tại thôn Khả Liễu
– xã Phúc Tiến- huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây, trình độ văn hóa 9/12.
2. Vũ Duy Thanh, sinh năm 1985, trú tại thôn Khả Liễu – xã Phúc Tiến-
huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây, trình độ văn hóa 9/12.
3.Phạm Huy Hoàng, sinh năm 1988, trú tại thôn Khả Liễu – xã Phúc Tiến-
huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây, trình độ văn hóa 8/12.
4. Đào Ngọc Quyết ( tức Đào Văn Quyết), sinh năm 1986, trú tại thôn Khả
Liễu – xã Phúc Tiến- huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây, trình độ văn hóa
9/12.
5. Vũ Văn Minh, sinh năm 1988, trú tại thôn Khả Liễu – xã Phúc Tiến-
huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây, trình độ văn hóa 9/12.
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Người bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn Việt, sinh năm 1987, trú tại thôn Đông Vinh – xã
Chuyên Mỹ - huyện Phú Xuyên – tỉnh Hà Tây.
2. Anh Dương Văn Khoa, sinh năm 1986, trú tại thôn Đông Vinh – xã
Chuyên Mỹ - huyện Phú Xuyên – tỉnh Hà Tây.
Theo cáo trạng của Viện kiểm Sát truy tố thì các bị cáo bị truy tố về hành vi
phạm tội như sau:
Do có xích mích từ trước nên vào 21h ngày 13/10/2007, Nguyễn Văn Việt
và Dương Việt Khoa đi bộ đến nhà ông Vũ Văn Dũng trú tại Khả Liễu – xã
Phúc Tiến- huyện Phú Xuyên – Tỉnh Hà Tây để xin lỗi Vũ Duy Thanh ( là
con trai ông Dũng ), khi đến nhà chị Đào Thị Thủy ở cùng thôn với Thanh thì
gặp Trần Văn Toàn ( tức Trần Tuấn Toàn), Đào Ngọc Quyết, Phạm Huy
Hoàng, Vũ Văn Minh và một số đối tượng khác đều trú ở thôn Khả Liễu – xã
Phúc Tiến- huyện Phú Xuyên đang ngồi chơi tại đó. Thấy vậy Khoa hỏi” có
thấy Duy Thanh ở đây” Sơn trả lời” không có”.Sau đó Khoa, Việt đi xuống
nhà Thanh. Khi Khoa và Việt vừa đi thì Toàn, Hoàng và Quyết đều nói với
cả bọn trước đây đã từng bị Việt chặn đánh, kể xong Toàn nói’ bây giờ cả
bọn đi theo bọn nó để chặn đánh” nghe Toàn nói vậy cả bọn đồng ý đi chặn
đánh Việt và Khoa, sau đó Hoàng đi vào cạnh đống rơm nhà chị Thủy lấy ba
đoạn ống nước phi 20, mỗi đoạn dài 40 đến 50 cm vứt xuống nền đường,
Hoàng cầm một đoạn, Sơn cầm hai đoạn và đưa tiếp cho Quyết một đoạn.
Hoàng đi vào vườn nhà ông Vân cách nhà chị Thủy 4- 5 m thì tìm thấy một
đoạn tre dài khoảng 50 cm,sau đó cả bọn đi xuống khu vực gần nhà ông
Tài( cách nhà Thanh khoảng 50 cm) với mục đích chờ Việt và Khoa quay ra
để đánh. Khoảng 30 phút sau Việt, Khoa từ nhà Thanh đi ra, vừa đi qua chỗ
Hoàng ngồi lập tức Hoàng đứng dậy tay cầm gậy tre lao theo chiều từ trên
xuống vào khu vực giữa lưng của Việt và làm Việt ngã xuống đường, thấy
Việt bị đánh Khoa bỏ chạy và bọn Hoàng, Quyết, Minh đã đuổi theo dùng
gậy, tuýp sắt vụt vào người Khoa nhưng không trúng. Sau khi dùng gậy lao
vào lưng Việt làm Việt ngã xuống đường thì Toàn, Sơn tiếp tục cầm tuýp
nước vụt liên tiếp vào đầu Việt, Thanh và Sơn dùng chân đá vào người Việt.
Nguyễn Văn Việt bị rách da đầu, chảy máu được đưa vào điều trị tại bệnh
viện huyện Phú xuyên sau đó do chấn thương nặng nên được đưa đi bệnh
viện Việt Đức điều trị hai ngày rồi về điều trị tại nhà.
Tại bảng giám định pháp y số 96/ 2007/GĐPY ngày 22/11/ 2007 của tổ
chức giám định pháp y tỉnh Hà Tây đã kết luận: Vết thương rách da đầu vùng
trán dài 5. 2 cm, bờ mép nham nhở, xương sọ dạn vỡ dài 1,2 cm và kết luận
nạn nhân phải cắt bỏ tách hộp sọ để lấy máu ra, vết thương có di chứng kéo
dài gây tổn hại sức khỏe.
Với những hành vi phạm tội nêu tại bảng cáo trạng số 46/ KSĐT ngày
04/07/2007 Viện Kiểm Sát huyện Phú Xuyên đã truy tố:
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
Trần Văn Toàn ( tức Trần Tuấn Toàn), Vũ Duy Thanh, Phạm Huy Hoàng,
Đào Ngọc Quyết ( tức Đào Văn Quyết) về tội cố ý gây thương tích theo
khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Vũ Văn Minh về tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật
hình sự năm 1999.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn
dienj chứng cứ, ý kiến của Kiểm Sát viên, luật sư, của các bị cáo và
những người tham gia tố tụng khác.
Toàn là người khởi xướng đánh anh Việt và anh Khoa, Hoàng là người
hưởng ứng tích cực nhất.
Các bị cáo đã hành động rất tích cực, tuy không xác định rõ thương tích riêng
biệt mà mỗi bị cáo gây ra cho anh Việt nhưng các bị cáo đều xác định có
tham gia và cùng gây thương tích cho anh Việt nên Vũ Duy Thanh và Đào
Ngọc Quyết đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội” cố ý gây thương
tích” với vai trò ngang nhau và có vị trí sau Trần Văn Toàn, Phạm Huy
Hoàng. Trong hai bị cáo trên thì Phạm Huy Hoàng là bị cáo có tuổi chưa
thành niên nên hình phạt được áp dụng theo Điều 69, Điều 74 Bộ luật
hình sự.
Bởi các lý lẽ trên hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Phú
Xuyên đã quyết định:
1. Tuyên bị cáo: Trần Văn Toàn, Vũ Duy Thanh và Đào Ngọc Quyết đều
phạm tội cố ý gây thương tích, Vũ Văn Minh phạm tội gây rối trật tự công
cộng.
Áp dụng khoản 03 Điều 104, Điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 69,
Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Trần Văn Toàn 36( ba mươi sáu)
tháng tù, thời hạn phạt tù từ ngày 14/2/2007.
áp dụng khoản 03 Điều 104, Điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật
hình sự phạt Vũ Duy Thanh 42 tháng tù thời hạn từ ngày 16/10/2007
Áp dụng khoản 03 Điều 104, Điểm h, d khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật
hình sự năm 1999 xử phạt Đào Ngọc Quyết 18( mười tám) tháng tù tính từ
ngày bắt đầu thi hành án.
Đối với bị cáo Phạm Huy Hoàng áp dụng khoản 01 Điều 245, khoản h, p, k
khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 30( ba mươi)
tháng tù.
Đối với Vũ Văn Minh xử phạt 09 tháng tù và cho hưởng án treo thời hạn thử
thách là 24 tháng.
3. Nguyên nhân dẫn tới tội cố ý gây thương tích
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội cố ý gây thương tích rất đa dạng và
phong phú. Nó có thể là nguyên nhân bên trong nội tại của nó và cũng có thể là
những nguyên nhân bên ngoài. Tất cả những nguyên nhân và điều kiện đó ở mỗi
Chuyên đề thực tập Đào Thị Nga – KT30B
khía cạnh, mỗi chừng mực khác nhau sẽ tác động đến tình hình tội phạm ở mức
độ khác nhau.
Việc làm sang tỏ nguyên nhân và điều kiện phát sinh, tồn tại của tội cố ý
gây thương tích có ý nghĩa rất quan trọng, nó đáp ứng được yêu cầu về mặt lý
luận cũng như thực tiễn đấu tranh và phòng chống loại tội phạm này. Sau đây là
một số nguyên nhân và điều kiện tiêu biểu của tội cố ý gây thương tích trên địa
bàn huyện.
3.1. Nguyên nhân về tuyên truyền, phô biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền giáo dục pháp luật là đưa pháp luật đến với mọi người, để
mọi người hiểu và tuân theo pháp luật. Mặc dù đã có nhiều cố gắng song công
tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện trong thời gian
qua vẫn còn nhiều hạn chế nhất định.
- Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp
luật của nhân dân trên địa bàn còn nghèo nàn về nội dung, nặng tính hình
thức nên hiệu quả công tác còn chưa cao.
- Ở một số vùng trên địa bàn huyện trình độ văn hóa của người dân còn thâp,
cộng với cuộc sống khó khăn, lại thiếu cơ sở vật chất như: đài, loa phát
thanh, bảng tin hang ngày, tài liệu pháp luật… vì thế công tác này càng gặp
nhiều khó khăn.
Đội ngũ cán bộ làm công tác về pháp luật trong những năm qua trên địa bàn
huyện số lượng đã tăng lên đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
thực tiễn – tình trngj thiếu cán bộ pháp luật vẫn còn tồn tại đặc biệt là chất
lượng của đội ngũ cán bộ này vẫn chưa thực sự được nâng cao.
Qua đó, chúng ta nhận thấy công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật kém
sẽ dẫn đến hậu quả là ý thức pháp luật không cao là nguyên nhân dẫn đến
hành vi phạm tội nói chung và tội cố ý gây thương tích nói riêng.
3.2. Nguyên nhân về công tác giáo dục
Đối với môi trường giáo dục gia đình
Gia đình là nơi hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hội, là nơi kiến tạo
môi trường cho mỗi cá nhân phát triển. Một gia đình giưc gìn và phát huy
được vẻ đẹp truyền thống trong đó mỗi cá nhân đều sống gương mẫu, chan
hòa, yêu thương lẫn nhau… thì sẽ hình thành được nhân cách tích cực ở mỗi
thành viên trong gia đình. Nhưng thực tế hiện nay, không ít gia đình đã
không giữ được vẻ đẹp truyền thống đó, đã bị lối sống thị trường làm biến
dạng – cha mẹ thì hay bất hòa, không quan tâm đến con cái, chỉ lo kiếm thật
nhiều tiền, bất chấp pháp luật. Việc giáo dục trong gia đình không còn được
chú trọng như trước, những bậc phụ huynh này lại khoán trắng sự giáo dục
đó cho thầy cô, cho nhà trường mặt khác, họ lại cho con cái của họ tiếp xúc
quá sớm với đồng tiền, quá nuông chiều chúng… vì thế đã hình thành nhân
cách xấu cho chúng và đưa chúng đến với những hành vi trái với những
chuẩn mực xã hội, như hành vi gây thương tích cho người khác.
Đối với môi trường giáo dục nhà trường
Thời gian qua trên địa bàn huyện nói riêng cũng như trên toàn quốc nói
chung, nhà trường mới chỉ chú trọng đến việc giảng dạy những kiến thức
phổ thông mà chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục cách” làm người cho
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét