Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
192 Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại (hệ thống chợ)
3
5. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nôi dung nghiên cứu của đề tài đợc kết cấu thành 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả đầu t phát triển
KCHTTM (Hệ thống chợ)
Chơng 2: Thực trạng hiệu quả đầu t phát triển hệ thống chợ ở nớc
ta
Chơng 3: Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả đầu t phát triển
hệ thống chợ đến năm 2010
4
Chơng 1
Một số vấn đề lý luận về hiệu quả đầu t phát triển
KCHTTM (hệ thống chợ)
1.1. KCHTTM và vị trí của hệ thống chợ trong KCHTTM
1.1.1. Khái niệm và các loại hình KCHTTM
1.1.1.1. Các khái niệm
+ Khái niệm KCHTTM:
Khái niệm cơ sở hạ tầng đợc sử dụng rộng rãi, phổ biến trong mọi lĩnh
vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, của đời sống xã hội. Cơ sở hạ
tầng đợc hiểu là nền tảng của một tổ chức, một lý luận hay một hoạt động.
Nó không chỉ bao hàm những nền tảng vật chất kỹ thuật, mà còn cả những
nền tảng về t duy, nhận thức. Vì vậy, ở nớc ta hiện nay, khi chỉ đề cập đến
những nền tảng vật chất kỹ thuật, ngời ta thờng sử dụng khái niệm kết
cấu hạ tầng. Từ đó, kết cấu hạ tầng cũng đợc hiểu là nền tảng vật chất kỹ
thuật của một tổ chức hay một hoạt động. Nội hàm của khái niệm kết cấu hạ
tầng đã đợc tăng lên nhiều so với khái niệm cơ sở hạ tầng không chỉ vì nó
đã đề cập cụ thể vào nền tảng vật chất kỹ thuật, mà nó còn đề cập đến tính
kết nối giữa các dạng, các bộ phận vật chất - kỹ thuật làm nền tảng cho một
tổ chức, một hoạt động.
Trong khái niệm về cơ sở hạ tầng cũng nh khái niệm về kết cấu hạ
tầng trên đây, một tổ chức hay một hoạt động có thể đợc tiếp tục cụ thể hoá
hơn để tăng thêm nội hàm của khái niệm. Một tổ chức có thể là tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, Một hoạt động cũng có thể là hoạt
động kinh tế, hoạt động chính trị, hoạt động văn hoá Giữa tổ chức và
hoạt động có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Các hoạt động càng đa dạng,
phức tạp và ở qui mô, phạm vi càng rộng càng đòi hỏi phải hình thành các tổ
chức chặt chẽ. Nói cách khác, phạm vi, qui mô và tính chất của các hoạt
động sẽ qui định qui mô và tính chất của tổ chức. Đồng thời, mọi tổ chức
đợc hình thành đều nhằm thực hiện các hoạt động nhất định để đạt đợc
mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Trong lĩnh vực kinh tế, căn cứ vào tính chất, đặc điểm và phạm vi,
ngời ta lại có thể phân chia thành các lĩnh vực hoạt động khác nhau nh
hoạt động sản xuất, hoạt động thơng mại Tơng ứng với các lĩnh vực hoạt
động đó sẽ có những tổ chức hay các doanh nghiệp, các cá nhân khác nhau.
5
Nh vậy, có thể nêu khái niệm: Kết cấu hạ tầng thơng mại là những
nền tảng vật chất- kỹ thuật để thực hiện hoạt động thơng mại của các chủ
thể kinh tế bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân. Trong khái niệm này hoạt
động thơng mại bao gồm cả thơng mại hàng hoá và thơng mại dịch vụ.
Đồng thời, các chủ thể kinh tế ở đây không chỉ là các doanh nghiệp và cá
nhân hoạt động thơng mại thuần tuý mà bao gồm cả các doanh nghiệp, cá
nhân hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất.
+ Khái niệm kết quả và hiệu quả đầu t KCHTTM:
Những nền tảng vật chất kỹ thuật để thực hiện hoạt động thơng mại
của các doanh nghiệp, cá nhân lại là kết quả của hoạt động đầu t do các
doanh nghiệp, cá nhân hay Nhà nớc thực hiện. Kết quả của hoạt động đầu
t KCHTTM đợc thể hiện thành tài sản cố định đợc huy động và năng lực
phục vụ tăng thêm đáp ứng nhu cầu phát triển các hoạt động kinh doanh. Cụ
thể, các tài sản cố định thuộc lĩnh vực hoạt động thơng mại thờng bao gồm
chợ, siêu thị, trung tâm thơng mại, trung tâm triển lãm và hội chợ, các cơ sở
cung cấp dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hoá, Đối với hệ thống chợ,
tài sản cố định về cơ bản bao gồm: 1) Diện tích (đã đợc xây dựng hay cha
đợc xây dựng nhà chợ) để phục vụ cho hoạt động mua bán, trao đổi hàng
hoá; 2) Các khu vực cung cấp dịch vụ cho ngời mua và ngời bán (kho, bãi
đỗ, gửi phơng tiện và giao nhận hàng hoá, khu vệ sinh, khu kiểm tra, giám
định chất lợng sản phẩm, ); 3) Các trang thiết bị cơ bản kèm theo tại các
khu vực kinh doanh và cung cấp dịch vụ.
Tài sản cố định đợc huy động là các công trình hay hạng mục công
trình có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc xong quá trình đầu
t và đợc đa vào sử dụng. Nghĩa là, nếu công trình hay hạng mục công
trình đã kết thúc quá trình đầu t, nhng ch
a đợc đa vào sử dụng hoặc
không đợc sử dụng thì nó cha trở thành tài sản cố định đợc huy động.
Chẳng hạn, trong hệ thống chợ ở nớc ta hiện nay, nhiều chợ đã đợc xây
dựng xong, nhng cha hoặc không đợc đa vào sử dụng thì cũng cha trở
thành tài sản cố định đợc huy động.
Năng lực phục vụ thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các tài sản cố định đã đợc huy động vào sử dụng để
sản xuất ra sản phẩm hay thực hiện các hoạt động thơng mại. Nhìn chung,
năng lực phục vụ tăng thêm của các tài sản cố định thuộc hệ thống chợ có thể
đợc xác định thông qua sự gia tăng số lợng các hộ kinh doanh cố định, hay
số lợng ngời đến bán hàng tại các chợ, hay rộng hơn là số lợt ngời đến
chợ mua bán hàng hoá, hay khối lợng hàng hoá đợc lu chuyển qua chợ
bình quân theo ngày, tháng, năm
6
Tài sản cố định đợc huy động và năng lực phục vụ tăng thêm có khả
năng phát huy tác dụng làm ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho xã hội. Do
đó, hiệu quả đầu t đợc xác định trên cơ sở so sánh giữa giá trị kinh tế xã
hội đạt đợc trong một thời kỳ nhất định nhờ tài sản cố định đợc huy động
và năng lực phục vụ tăng thêm với chi phí đầu t phải bỏ ra để có kết quả đầu
t đó. Nói cách khác, hiệu quả đầu t là quan hệ so sánh giá trị kinh tế, xã
hội đợc tạo ra nhờ phát huy tác dụng của kết quả đầu t và chi phí phải bỏ
ra để có kết quả đầu t đó trong một thời kỳ nhất định. Trong đó, giá trị kinh
tế xã hội không chỉ đơn thuần là lợi nhuận hay khoản tiền thu đợc, mà còn
bao gồm các giá trị kinh tế xã hội khác đợc tạo ra nhờ phát huy tác dụng
của kết quả đầu t đó.
1.1.1.2. Các loại hình kết cấu hạ tầng thơng mại
Các loại hình KCHTTM có thể đợc phân loại dựa trên hệ thống các
tiêu thức phân loại theo nhiều cấp. Cụ thể, trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài này, các loại hình KCHTTM có thể đợc phân loại chi tiết nh sau:
+ Các loại hình KCHTTM phân theo các hoạt động thơng mại:
Các hoạt động thơng mại, theo Luật Thơng mại Việt Nam
1
, bao gồm
nhiều hoạt động khác nhau. Trong đó, mỗi hoạt động thơng mại đợc thực
hiện trên những nền tảng của vật chất - kỹ thuật nhất định. Chẳng hạn, hoạt
động môi giới thơng mại có thể đợc thực hiện trên nền tảng vật chất kỹ
thuật của các trung tâm hay các sàn giao dịch. Hoạt động hội chợ triển lãm
thơng mại đợc thực hiện trên nền tảng vật chất kỹ thuật là các trung tâm
hội chợ Nói cách khác, với một hay một số hoạt động thơng mại sẽ có
những loại hình KCHTTM tơng ứng. Dới đây liệt kê các loại hình
KCHTTM chủ yếu để thực hiện một số hoạt động thơng mại cơ bản:
STT Các hoạt động thơng mại cơ bản Loại hình KCHTTM tơng ứng
1. Mua và bán hàng hoá
Đại lý thơng mại
Khuyến mại,
Chợ, cửa hàng độc lập, cửa hàng
theo chuỗi, siêu thị, trung tâm
thơng mại,
2. Mua và bán hàng hoá qua sở giao
dịch hàng hoá
Môi giới thơng mại
Đấu giá, đấu thầu hàng hoá,
Sở giao dịch, Sàn giao dịch
1
Luật Thơng mại đợc Quốc Hội khoá XI thông qua tại Kỳ họp thứ VII, ngày 14 tháng 6
năm 2005.
7
3. Quảng cáo thơng mại
Khuyến mại
Trng bày, giới thiệu hàng hoá
Các trung tâm triển lãm, cơ sở tổ
chức hội chợ triển lãm, các
phơng tiện quảng cáo,
4. Dịch vụ logistics Kho, bãi, các phơng tiện vận
chuyển,
5. Dịch vụ giám định Các cơ sở giám định hàng hoá
+ Các loại KCHTTM phục vụ cho hoạt động mua bán hàng hoá:
Các loại hình KCHTTM phục vụ cho hoạt động mua, bán hàng hoá lại
có thể đợc phân thành hai loại chủ yếu: 1) Hoạt động mua bán có sự tham
gia trực tiếp của hàng hoá trong giao dịch, tơng ứng với nó là các loại hình
KCHTTM nh chợ, siêu thị, cửa hàng, cửa hiệu; 2) Hoạt động mua bán hàng
hoá giao sau, tơng ứng với nó là các sàn giao dịch hay sở giao dịch. Ngoài
ra, các cơ sở hội chợ thơng mại cũng có thể đợc xếp vào loại KCHTTM
phục vụ cho hoạt động mua bán hàng hoá giao sau hoặc giao ngay tuỳ theo
tập khách hàng mua chủ yếu là các doanh nghiệp hay cá nhân. Tuy nhiên,
nếu xem xét mục tiêu tham gia hội chợ của các doanh nghiệp bán hàng là để
quảng bá sản phẩm và chào hàng, thì các cơ sở hội chợ thơng mại có thể xếp
vào loại hình KCHTTM phục vụ cho hoạt động mua bán hàng hoá giao sau
(theo số hợp đồng đợc ký kết qua hội chợ).
+ Các loại chợ:
Việc phân loại chợ thờng đợc dựa trên nhiều tiêu thức phân loại
khác nhau. Cụ thể:
+ Căn cứ vào nơi họp chợ có thể có các tiêu thức phân loại: Phân
loại chợ theo địa giới hành chính (chợ xã, chợ huyện,); Phân loại chợ theo
vùng lãnh thổ (chợ miền núi, chợ đồng bằng, );
+ Căn cứ vào thời gian họp chợ có các tiêu thức phân loại: Theo thời
gian trong ngày (chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm); Theo khoảng cách thời gian
giữa các lần họp chợ (chợ hàng ngày, chợ phiên, chợ mùa vụ);
+ Căn cứ vào ngời tham gia họp chợ có các tiêu thức phân loại: Theo
qui mô số ngời tham gia họp chợ hay số ngời kinh doanh thờng xuyên
(cố định) tại chợ;
+ Căn cứ vào hoạt động mua bán hàng hoá có các tiêu thức phân loại
rất đa dạng: Theo loại hàng hoá chủ yếu đợc lu thông qua chợ (hàng nông
sản, hàng công nghiệp,); Theo qui mô hàng hoá và phơng thức đợc giao
8
dịch (chợ bán buôn, chợ bán lẻ); Theo phạm vi lu thông của hàng hoá (chợ
vùng, liên vùng,); Theo điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện kinh doanh
hàng hoá (chợ kiên cố, chợ bán kiên cố,)
Để phù hợp với nghiên cứu về hiệu quả đầu t phát triển chợ, phân loại
các loại chợ chủ yếu tập trung vào các tiêu thức phân loại cơ bản sau:
1) Phân loại chợ theo phạm vi và qui mô hoạt động kinh doanh của chợ, bao
gồm: Chợ dân sinh; Chợ đầu mối. Các loại chợ này lại có thể tiếp tục
đợc phân loại nh sau: Chợ dân sinh ở khu vực thành thị, chợ dân sinh ở
khu vực nông thôn; Chợ đầu mối theo các mặt hàng nông sản chủ yếu
đợc bán buôn qua chợ.
2) Phân loại chợ theo qui mô số điểm kinh doanh cố định, theo Nghị định 02
CP, các chợ loại I có trên 400 số điểm kinh doanh cố định trên chợ, chợ
loại 2 có từ 200 - đến dới 400 điểm kinh doanh cố định, chợ loại 3 có
dới 200 điểm kinh doanh cố định.
3) Phân loại chợ theo tình trạng cơ sở vật chất chợ có: Chợ kiên cố, chợ bán
kiên cố và chợ lều lán tạm.
1.1.2 Vị trí hệ thống chợ trong hệ thống kết cấu hạ tầng thơng mại
Chợ đợc xem là một trong những loại hình KCHTTM để thực hiện
hoạt động mua bán có sự tham gia trực tiếp của hàng hoá, nh cửa hàng
trung tâm thơng mại, siêu thị, Trong hệ thống KCHTTM này, sự tồn tại
và phát triển của chợ có vị trí quan trọng nh:
Thứ nhất, xét về lịch sử phát triển, chợ là một trong những loại hình
KCHTTM truyền thống, đợc phát triển sớm nhất nh là sự khởi đầu của
quá trình phát triển các loại hình KCHTTM khác trong hoạt động mua bán
hàng hoá.
Chợ đã ra đời và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền kinh
tế hàng hoá. Chợ đã tồn tại nh một loại hình KCHTTM phổ biến trong các
xã hội nông nghiệp do sự phù hợp của nó với trình độ sản xuất và tiêu dùng
xã hội. Trong khi đó, các loại hình KCHTTM khác trong hoạt động mua bán
hàng hoá chỉ đợc hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển từ xã
hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp. Chẳng hạn, tại các nớc Đông Nam
á - hầu hết là các nớc đang phát triển và trong giai đoạn thực hiện công
nghiệp hoá - chợ vẫn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội.
Tại Malaysia, trong thập kỷ 90, Chính phủ đã có chủ trơng thu hút
các nhà đầu t trong và ngoài nớc xây dựng các đại siêu thị và chỉ trong
thời gian ngắn đã có 12 đại siêu thị đi vào hoạt động. Tuy nhiên, sự phát
triển quá nhanh của các đại siêu thị dẫn đến tình trạng bất hợp lý. Đó là tình
9
trạng công suất của các đại siêu thị đã trở nên d thừa, trong khi các hộ kinh
doanh nhỏ lại thiếu địa điểm kinh doanh. Vì vậy, Chính phủ Malaysia đã tạm
dừng cấp phép đầu t xây dựng các đại siêu thị, thay vào đó Chính phủ thực
hiện 6 dự án xây dựng chợ (năm 2004) để giải quyết tình trạng thiếu điểm
kinh doanh cho các hộ kinh doanh nhỏ.
Tại Thái Lan, trớc năm 1957, các cơ sở thơng nghiệp truyền thống
(chợ, cửa hàng t nhân nhỏ lẻ) vẫn chiếm vị trí độc tôn. Các loại hình thơng
nghiệp hiện đại đầu tiên (cửa hàng bách hoá, siêu thị,) chỉ thực sự xuất
hiện ở Thái Lan sau năm 1957. Theo Bộ Thơng mại Thái Lan, trong tổng
giá trị lu chuyển hàng hoá, loại hình thơng mại truyền thống vẫn chiếm tới
70% vào giai đoạn trớc khủng hoảng châu á (1997), tuy sau đó đã giảm rất
nhanh, còn 46% vào năm 2002. Mặc dù các cơ sở thơng nghiệp truyền
thống đang bị lấn át bởi các cơ sở thơng nghiệp hiện đại, nhng Chính phủ
Thái Lan vẫn quan tâm phát triển các loại chợ, đặc biệt là các chợ đầu mối
nông sản.
Đối với nớc ta hiện nay, với tỷ trọng 80% dân số sống ở nông thôn và
trên 70% dân số có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, hệ thống chợ vẫn là
nơi trao đổi, mua bán hàng hóa của đại bộ phận dân c. Theo đánh giá
chung, hệ thống chợ truyền thống của Việt Nam vẫn chiếm khoảng 80%
tổng lợng hàng hóa lu thông trên thị trờng, trong khi các loại hình phân
phối khác mới chỉ chiếm 20%.
Thứ hai, mặc dù trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhiều loại
hình KCHTTM hiện đại đợc phát triển, nhng chợ vẫn tồn tại và có vị trí
độc lập không thể thay thế hoàn toàn trong các loại hình KCHTTM trong
hoạt động mua bán hàng hoá của các tầng lớp dân c.
Trong các nền kinh tế đang phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm
vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, sự tồn tại độc lập của chợ đợc dựa
trên những cơ sở nh: (1) Sự khác biệt giữa các sản phẩm nông nghiệp do
ngời nông dân sản xuất ra với đòi hỏi của ngời tiêu dùng. Trong khi mỗi
loại hình thơng nghiệp thờng phù hợp với hoạt động kinh doanh hàng nông
sản ở một mức chất l
ợng, giá cả và sự phong phú về chủng loại nhất định;
(2) Sự khác biệt về chi phí gia nhập vào hệ thống kinh doanh hàng nông sản
của các đối tợng khác nhau. Thông thờng, khả năng tham gia của các hộ
nông dân, ngời buôn bán nhỏ phù hợp với việc gia nhập vào các chợ hơn là
hệ thống siêu thị, cửa hàng; (3) Sự khác biệt về trình độ quản lý và yêu cầu tổ
chức kinh doanh của các loại hình thơng nghiệp.
Trong các nền kinh tế phát triển, cơ sở để chợ có vị trí độc lập trong các
loại hình KCHTTM khác là: (1) Các sản phẩm nông nghiệp vẫn đợc sản
10
xuất ở qui mô hộ gia đình, hay là sản phẩm làm vờn; (2) Nhu cầu tiêu dùng
sản phẩm nông nghiệp tơi, sống vẫn đợc a chuộng ở các nớc phát triển;
(3) Sự khác biệt về chủng loại sản phẩm, chất lợng, giá cả và tập quán tiêu
dùng sản phẩm nông nghiệp vẫn tồn tại ở các vùng đất, vùng c dân khác
nhau.
Nhìn chung, quá trình phát triển kinh tế nói chung và quá trình đô thị
hoá nói riêng đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của chợ ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Xã hội càng phát triển thì mức độ thích dụng
của loại hình KCHTTM chợ truyền thống càng thấp, nhng không phải vì thế
mà hoàn toàn mất đi những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của loại hình
KCHTTM này. Chính sự tồn tại độc lập của chợ đã mang lại cho chợ vị trí
không thể thay thế hoàn toàn trong quá trình phát triển của các loại hình
KCHTTM đáp ứng nhu cầu mua bán hàng hoá của dân c. Thực tế, đa số các
nớc châu Âu đều có nền kinh tế phát triển và đã bớc qua thời kỳ công
nghiệp hoá từ nhiều thập kỷ trớc đây với tỷ lệ đô thị hoá rất cao. Tại các
thành phố, sự phát triển triển tập trung của các loại hình KCHTTM đã tạo
thành những khu vực thơng mại trung tâm (Center for Business District -
CBD). Những CBD này bao gồm các loại hình, nh: siêu thị, cửa hàng
chuyên doanh, cửa hàng bán lẻ, khách sạn, văn phòng thơng mại, rạp chiếu
phim Trong CBD thờng vẫn tồn tại loại hình chợ truyền thống. Những
hàng hoá đợc bày bán ở chợ chủ yếu do các hộ kinh tế cá thể sản xuất ra
(làm vờn hay nghề thủ công), bao gồm: rau sạch, thực phẩm tơi sống, hoa
quả tơi, hàng thủ công truyền thống của địa phơng. Đồng thời, tại các chợ
này, các hàng hoá cũ, đã qua sử dụng cũng đợc bày bán. Bên cạnh đó, tại
những vùng có những sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nớc vẫn tồn tại các
chợ kết hợp giữa buôn bán (đặc sản của vùng), du lịch và triển lãm nh khu
chợ hoa Tulip ở vùng Keukenhof, Hà Lan.
1.1.3 Những đặc trng chủ yếu của hệ thống chợ
So với các kết cấu hạ tầng thơng maị cùng loại, hệ thống chợ có
những đặc trng hay những điểm khác biệt nh:
Thứ nhất, địa điểm họp chợ phải đảm bảo thuận tiện cho sự gặp gỡ của
số đông ngời mua và ngời bán.
Đối với các chợ ở khu vực nông thôn, đặc trng này khá rõ nét. Bởi vì,
đa số những ngời đến chợ là những ngời sản xuất nhỏ, vừa với t cách
ngời bán, vừa với t cách ngời mua. Nghĩa là, vị thế của ngời mua và
ngời bán trong việc xác định địa điểm để họp chợ là ngang nhau. Mặt khác,
qui mô trao đổi, mua bán của những ngời này thờng nhỏ, lẻ. Do đó, điều
11
kiện đảm bảo cho sự gặp gỡ giữa cung và cầu (cả về khối lợng và cơ cấu)
trên chợ là có sự tham gia đông đảo của ngời mua và ngời bán.
Đối với các chợ dân sinh ở khu vực đô thị hay đối với các chợ đầu mối,
do tỷ lệ các hộ chuyên buôn bán tăng lên, nên tính thuận tiện của địa điểm
họp chợ đối với ngời mua đòi hỏi cao hơn so với ngời bán. Tuy nhiên, địa
điểm họp chợ vẫn cần đảm bảo tính thuận tiện với số đông ngời buôn bán
tơng đối độc lập với nhau về tổ chức nguồn hàng và bán hàng.
Đối với các loại hình KCHTTM nh siêu thị, cửa hàng, địa điểm xây
dựng đòi hỏi đáp ứng cao nhất yêu cầu đảm bảo sự thuận tiện cho ngời
mua. Bởi vì, ngời bán có đủ điều kiện để chủ động tiếp cận ngời tiêu dùng
để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá.
Thứ hai, các sản phẩm trao đổi, mua bán tại các chợ thờng không có
sự thống nhất về phẩm cấp, qui cách sản phẩm, cách thức và trình độ chế
biến, cũng nh giá cả giữa các sản phẩm cùng qui cách, phẩm chất.
Thành phần ngời bán hàng tại các chợ rất đa dạng bao gồm ngời sản
xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công) và ngời buôn bán nhỏ, Do đó, khó có
sự thống nhất giữa những ngời bán về qui cách, giá cả sản phẩm. Hơn nữa,
tính cạnh tranh giữa những ngời bán trên chợ cũng làm cho giá bán thờng
xuyên thay đổi.
Các sản phẩm đợc đa ra bán tại các loại hình KCHTTM khác,
thờng là những sản phẩm đã sơ chế, phân loại, bao gói sản phẩm theo những
qui cách nhất định do ngời bán tự thực hiện hay do cơ sản xuất chế biến
thực hiện trớc khi đa đến cơ sở bán hàng. Đồng thời, giá bán đợc qui định
thống nhất đối với cùng một chủng loại, chất lợng, qui cách sản phẩm.
Thứ ba, thời gian họp chợ trong ngày thờng không kéo dài, có tính
thời điểm cao, nhất là với các chợ nông thôn, chợ vùng sâu, vùng xa.
Đối với các chợ ở khu vực nông thôn, thời gian họp chợ thờng bắt đầu
từ sáng sớm đến nửa buổi thì số lợng ngời mua, ngời bán (là nông dân
hay ngời sản xuất nhỏ, kể cả ngời buôn chuyến) giảm dần và thờng chỉ
còn lại một số hộ buôn bán thờng xuyên, cố định trên chợ. Đối với những
chợ ở khu vực có mật độ dân c tha (vùng sâu, vùng xa) hiện nay vẫn đợc
họp theo phiên chợ (khoảng 5 ngày có một phiên chợ), hoặc thời gian họp
chợ chỉ kéo dài vài ba giờ hay một buổi trong ngày.
Đối với các chợ dân sinh ở khu vực đô thị, thời gian họp chợ đã diễn ra
thờng xuyên và kéo dài trong cả ngày. Tuy nhiên, thời điểm có đông ngời
mua và ngời bán nhất thờng vào buổi sớm hay buổi chiều do phần lớn
12
ngời tiêu dùng thờng tập trung mua hàng vào những thời điểm trớc hoặc
sau thời gian làm việc công sở.
Đối với các chợ đầu mối, chợ bán buôn lớn, thời gian hoạt động của
chợ cũng vẫn có tính tập trung cao vào những thời điểm cụ thể trong ngày.
Thời điểm này thờng phải phù hợp với điều kiện tập kết của các nguồn
hàng, hay phù hợp với yêu cầu phát luồng tiêu thụ sản phẩm đến nơi khác.
Thứ t, qui mô đầu t và khả năng sử dụng, khai thác những cơ sở vật
chất kỹ thuật tại các chợ có liên quan trực tiếp với số lợng ngời tham gia
bán hàng, nhất là những ngời bán hàng thờng xuyên, cố định tại chợ.
Qui mô đầu t và khả năng sử dụng, khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật
của các loại hình KCHTTM cùng loại khác đợc chủ đầu t (thờng là ngời
trực tiếp kinh doanh) xác định trên cơ sở đánh giá số lợng khách hàng tiềm
năng và khả năng bán ra. Đồng thời, số lợng quầy hàng, nhân viên bán hàng
cũng do chủ cơ sở kinh doanh quyết định dựa trên cách thức tổ chức và
phơng thức bán hàng.
Qui mô đầu t và khả năng sử dụng cơ sở vật chất chợ lại thờng dựa
trên số lợng ngời bán hàng hay số điểm kinh doanh cố định, thờng xuyên
trên chợ. Theo Nghị định 02 của Chính phủ về tổ chức quản lý và kinh doanh
chợ, tơng ứng với qui mô số hộ kinh doanh cố định tại chợ, yêu cầu về đầu
t từng loại chợ đợc xác định nh sau: 1) Chợ loại I có trên 400 điểm kinh
doanh, đợc đầu t xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch, có mặt bằng
phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các
dịch vụ tại chợ (trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch
vụ đo l
ờng, dịch vụ kiểm tra chất lợng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực
phẩm và các dịch vụ khác); 2) Chợ loại II có trên 200 điểm kinh doanh,
đợc đầu t xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch, có mặt bằng
phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối
thiểu tại chợ (trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch
vụ đo lờng); Chợ loại III có dới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ cha
đợc đầu t xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố, chủ yếu phục vụ nhu cầu
mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phờng và địa bàn phụ cận.
Thứ năm, hoạt động đầu t phát triển hệ thống chợ thờng xuất phát từ
những mục tiêu kinh tế xã hội hơn là mục tiêu lợi nhuận.
Thông thờng, đối với các chợ, tỷ lệ ngời sản xuất và buôn bán nhỏ
tham gia bán hàng thờng chiếm tỷ trọng lớn. Các đối tợng này chủ yếu bán
sản phẩm do họ sản xuất ra hay tìm kiếm việc làm và tăng thêm thu nhập.
Đây là một trong những vấn đề đợc Nhà nớc hết sức quan tâm vì các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc đầu t xây dựng chợ thờng đợc
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét