Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014
Bước dầu khảo sát tình hình viết địa danh nước ngoài trên một số văn bản tiếng việt hiện nay
5
gọi là địa danh ngồi nước, địa danh quốc tế, địa danh thế giới hay địa danh
nước ngồi. Trong đề tài này, chúng tơi thống nhất tên gọi “Địa danh nước
ngồi” để chỉ các địa danh khơng thuộc lãnh thổ Việt Nam.
1.1.3. Địa danh học
Ngơn ngữ có ba nghành chính: Ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp
học. Trong nghành từ vựng có một nghành nhỏ được gọi là Danh xưng học (
omomatics) chun nghiên cứu tên riêng. Danh xưng học gồm hai nghành nhỏ
hơn là nhân danh học và địa danh học
Nhân danh học (Authroponymy) là nghành chun nghiên cứu tên riêng
của người gồm (họ, tên, chữ lót, tự hiệu, bút danh, bí danh )
Địa danh học (toponymy) chun nghiên cứu các ý nghĩa, nguồn gốc và
những biến đổi của địa danh, cấu tạo và phương thức đặt tên địa danh
Khoa học nghiên cứu địa danh (Điạ danh học) ra đời từ thế kỷ XIX. Ở các
nước châu Âu ngày nay, bộ mơn này rất phát triển. Từ đầu thế kỷ đến nay có
hàng trăm chun khảo về địa danh, từ điển địa danh đã ra đời ở Liên Xơ (cũ),
Mỹ, Anh, Pháp, Đức
Ở nước ta, Địa danh học đã có mầm mống từ lâu đời nhưng lại phát triển
rất châm chạp. Các tài liệu có bàn về địa danh học phải kể đến “ Dư địa chí” của
Nguyễn Trãi thế kỷ XV năm 1435, Đến thế kỷ XIX có “ Lịch triều hiến chương
loại chí” của Phan Huy Chú (1821), và tới đầu thế kỷ XX, một số tác phẩm bắt
đầu đi sâu và có tính chất chun nghành hơn. Ví dụ “ Vũ trung tuỳ bút” của
Phạm Đình Hổ, “ Phương Đình- Dư địa chí” của Nguyễn Siêu (1900), “ Sử học
bị khảo , địa lý thượng hạ” của Đặng Xn Bảng
Đến cuối thế kỷ XX, địa danh học nước ta đã phát triển hơn lên trên cơ sở
tiếng Việt hiện đại. Trong giai đoạn này, có rất nhiều chun khảo đi sâu vào
việc nghiên cứu địa danh như: “ Việc tìm sử liệu trong ngơn ngữ dân tộc”, “
Nước Văn Lang qua các tài liệu ngơn ngữ”(1969), “ Mối liên hệ về ngơn ngữ cổ
đại ở Đơng Nam Á qua một vài tên sơng” của GS Hồng Thị Châu, “ Phương
pháp vận dụng địa danh học trong việc nghiên cứu địa danh học, lịch sử cổ đại
Việt Nam” của Đinh Văn Nhật, “ Thử bàn về địa danh Việt Nam” của Trần
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Thanh Tâm, “ Địa danh Việt Nam” của Nguyễn Văn Âu, “ Địa danh thành phố
Hồ Chí Minh” của Lê Trung Hoa các tác giả với những chun khảo của
mình về địa danh đã tạo một cơ sở lý luận nhất định cho việc nghiên cứu địa
danh Việt Nam.
Bên cạnh địa danh Việt Nam, địa danh nước ngồi cũng được giới khoa
học rất quan tâm, xem xét nó trong tổng thể là tên riêng nước ngồi, có rất
nhiều cuốn sách, từ điển, bài viết bàn về tên riêng, địa danh nước ngồi, cách
viết chúng như thế nào? Trong đó phải kể đến : Tạp chí ngơn ngữ số đặc biệt
3+4 năm 1979 “Về chuẩn mực hố chính tả và thuật ngữ khoa học” với hàng
loạt tham luận của các nhà ngơn ngữ về vấn đề này. “sổ tay địa danh nước
ngồi” của Nguyễn Dược, NXBGD, năm 1998, “ Từ điển nhân danh và địa
danh” của Bùi Phụng, NXBVHTT, năm 2000, “Từ điển địa danh nước ngồi”
của GS-TS Nguyễn Văn Khang, “ Mấy suy nghĩ về cách phiên chuyển từ ngữ
nước ngồi sang tiếng Việt” của GS-TS Nguyễn Thiên Giáp, Tạp chí ngơn ngữ
số 2, năm 2000, “Cần có cách nhìn thoả đáng đối với vấn đề phiên chuyển từ
ngữ nước ngồi sang tiếng Việt” của PGS-TS Nguyễn Bá Hùng, Tạp chí ngơn
ngữ số 4, năm 2000, “Góp thêm một vài nhận thức về cách viết và cách đọc tên
riêng nước ngồi ở nước ta” của GS- TS Đinh văn Đức, Tạp chí ngơn ngữ số 5,
năm 2000, “Việt hố tiếng nước ngồi hay quốc tế hố tiếng Việt” của Nguyễn
Ngọc Lam, Tạp chí ngơn ngữ số 7, năm 2000, “Những vấn đề đặt ra đối với việc
xử lý từ ngữ nước ngồi trong tiếng Việt” của GS- TS Nguyễn Văn Khang, “Có
nên phiên âm tiếng nước ngồi ” của GS- TS Nguyễn Đức Dân Tuy nhiên vấn
đề tên riêng, địa danh nước ngồi vẫn còn nhiều điều đáng bàn, chúng tơi sẽ
trình bày cụ thể ở phần sau.
1.2. Địa danh học và địa danh học bản đồ
“Xét về mặt mơ hình hố, bản đồ là một dạng mơ hình đồ hoạ tốt nhất
thay thế cho lãnh thổ, giúp nghiên cứu nó như nghiên cứu trên chính thực địa”.
Dẫn theo [29, 132]
Chính vì bản chất thay thế như vậy mà bản đồ được coi là một loại văn
bản đặc biệt. Một cơng cụ pháp lý, cơng cụ tun ngơn. Trong ý nghĩa to lớn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
như thế của bản đồ thì địa danh là yếu tố nội dung của bất kỳ bản đồ nào.
Địa danh học bản đồ là một bộ phận của địa danh học, nghiên cứu, ứng
dụng địa danh vào cơng tác bản đồ với nhiệm vụ chính là nghiên cứu việc chọn
và ghi các địa danh trên bản đồ mơt cách khoa học và đúng đắn nhất. Còn các
bản đồ sau đó lại trở thành nguồn tài liệu gốc đáng tin cậy cho các hoạt động
nghiên cứu và khai thác địa danh theo những mục đích riêng của người sử dụng
về lịch sử, ngơn ngữ, địa lý, tổ chức hành chính, lãnh thổ.
1.3. Mối quan hệ giữa địa danh và ngơn ngữ
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của địa danh học, một bộ phận của khoa
ngơn ngữ học.
Địa danh là một bộ phận của từ vựng, có số lượng khá lớn, có nguồn gốc
và ý nghĩa riêng. Địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm nên địa danh
là tư liệu nghiên cứu của ngữ âm học. Địa danh là những danh từ, danh ngữ
tn theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của một ngơn ngữ nên địa danh
cũng là tài liệu khảo cứu của ngữ pháp học. Địa danh còn là sản phẩm do người
bản địa tạo ra, gắn chặt với phương ngữ ở một địa phương nhất định nên địa
danh nằm trong tư liệu nghiên cứu của phương ngữ học. Địa danh ra đời trong
một thời đại nhất định nên nó cũng là tài liệu của nghành ngơn ngữ học lịch sử.
1.4. Các c¸ch phân loại địa danh
a. Theo Nguyễn Văn Âu, địa danh có thể được chia làm 8 loại [1]
- Địa danh sơng ngòi
- Địa danh hồ đầm
- Địa danh đồi núi
- Địa danh hải đảo
- Địa danh làng, xã
- Địa danh huyện, quận
- Địa danh tỉnh, thành phố
- Địa danh quốc gia
b. Lê Trung Hoa chia địa danh thành 4 loại [13]
- Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
- Địa danh hành chính
- Địa danh vùng
- Địa danh chỉ các cơng trình xây dựng thiên về khơng gian hai chiều
( cầu đường, cơng viên, sân vận động)
c.Theo chúng tơi, có thể chia địa danh thành hai loại như sau:
- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên, gồm:
* Tên các châu lục : Châu Âu, Châu Á
* Tên các địa hình núi: N. Alpes (Anphơ)
* Tên các địa hình sơng, hồ: S. Danube (Đanuyp), S. Seine (Xen), H.
Great bear lake ( Hồ Gấu Lớn)
* Tên các địa hình biển, đảo: Black sea (B. Đen), QĐ. NIcobar
- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo
* Địa danh vùng
* Địa danh hành chính
* Địa danh chỉ các cơng trình xây dựng
2. Các nguồn tư liệu
Như đã nói ở phần mở đầu. Ở đề tài này, chúng tơi sử dụng các nguồn tư
liệu: Báo, sách giáo khoa, bản đồ và Atlas. Trong đó, chúng tơi lÊy Atlas là cơ sở
để đối chiếu, so sánh các cách viết địa danh với nhau.
2.1. Báo chí
a. Báo Nhân Dân
Khảo sát và thống kê địa danh trên 415 số từ tháng 1 năm 1999 đến tháng
1 năm 2000 và 20 số tháng 11, tháng 12 năm 2004
Tổng số địa danh: 797 địa danh
b. Báo An ninh Thế giới
Khảo sát và thống kê địa danh trên 102 số, bao gồm: 7 số từ tháng 5 đến
tháng 7, năm 2000. 20 số từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2001. 30 số từ tháng 2
đến tháng 10, năm 2002. 40 số tháng 2 đến tháng 12 năm 2004. 5 số tháng 6,
năm 2005.
Tổng số địa danh: 441
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
c. Báo Tin Tức
Khảo sát và thống kê địa danh trên 50 số từ tháng 5 năm 2004 đến tháng
11 năm 2004.
Tổng số địa danh: 368
2.2. Sách giáo khoa
Bao gồm sách địa lý và sách lịch sử (kể cả sách bài tập)
a. §ịa lý lớp 7
Nxb ĐHSP, Hà Nội , 2004, 70 địa danh
b. Lịch sử và bài tập lịch sử lớp 8
Nxb ĐHSP, Hà Nội , 2004, 136 địa danh
c. Lịch sử lớp 9
Nxb GD, Hà Nội, 2003, 153 địa danh
d. Địa lý và lịch sử lớp 11
Nxb GD, Hà Nội, 2003, 160 địa danh
e. Lịch sử lớp 12
Nxb GD, Hà Nội, 2003, 223 địa danh
Tổng số địa danh mà chúng tơi thống kê được ở đây sẽ khơng trùng với
tổng số địa danh của sách giáo khoa ở cột phụ lục. Bởi vì, ở phụ lục chúng tơi
khơng có điều kiện để thể hiện được tình hình địa danh cụ thể ở từng loại sách
giáo khoa, vì vậy, những địa danh có cách viết như nhau, ví dụ: Mỹ , Anh chỉ
được viết một lần. Các cách viết cụ thể của từng loại sách được chúng tơi sắp
xếp trình bày ở chương 2
2.3. B¶n ®å vµ Atlas
a. B¶n ®å Qu©n sù
Tû lƯ: 1/ 20.000.000, Nxb §µ L¹t, 1995, 430 ®Þa danh
b. B¶n ®å D©n sù
Tû lƯ: 1/ 20.000.000, 2001, 356 ®Þa danh
c. Atlas
“Atlas by England”, 1998 (t¸i b¶n), 376 ®Þa danh
3. Vài nét về các cách viết địa danh nước ngồi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
3.1. Các cách viết địa danh nước ngồi từ trước tới nay
a. Như trên đã nói, tên riêng nước ngồi nói chung và địa danh nước
ngồi nói riêng là một vấn đề được nhiều nghành khoa học quan tâm trong đó có
nghành Ngơn ngữ học. Tạp chí ngơn ngữ, năm 1979 đã giành cả hai số 3 và 4 về
“Chuẩn mực hố chính tả và thuật ngữ khoa học”. Trong đó, có bàn rất nhiều
đến vấn đề tên riêng và địa danh nước ngồi.
Đã có rất nhiều ý kiến tranh luận gay go giữa các chủ trương.
- Chủ trương viết ngun dạng
Các tác giả: Cao Xn Hạo, Lê văn Thới
- Chủ Trương phiên âm
Như Mai, Ngơ Quốc Qnh, Nguyễn Kim Thản Đại biểu Hồng Xn
Nhị, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn
- Chủ trương dùng hai hệ thống song song: ngun dạng và phiên, thậm
chí bốn kiểu khác nhau, tuỳ theo loại văn bản: phiên- phiên có chú ngun dạng-
ngun dạng có chú cách đọc- ngun dạng
Đại biểu: Hồng Quy, Vũ Bá Hùng
- Chủ trương từ phiên âm tiến dần đến viết ngun dạng, mỗi giai đoạn
tương ứng với một kiểu theo trình tự đã nêu trên.
Đại biểu: Hồ Hải Thuỵ
Hiện nay, vấn đề này viết địa danh nước ngồi vẫn chưa có sự thống nhất,
các ý kiến vẫn xoay xung quanh: Ngun dạng, chuyển tự, phiên âm, dịch nghĩa.
3.2. Cụ thể về các cách viết địa danh
Như chúng ta đã biết, cách viết địa danh nước ngồi trên các văn bản của
nước ta từ trước đến nay đều khơng đồng nhất, tồn tại nhiều cách viết khác
nhau, phổ biến là các cách viết: Ngun dạng, phiên âm, chuyển tự, dịch nghĩa.
Để có cơ sở khảo sát và đánh giá tình hình địa danh trên các văn bản tiếng Việt
hiện nay và tiến tới lựa chọn một giải pháp khoa học nhất cho việc viết địa danh
nước ngồi, chúng tơi xin trình bày cụ thể về các cách viết địa danh phổ biến
trên, đồng thời phân tích ưu, nhược điểm của từng cách viết.
3.2.1. Phiên âm (transcription)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Theo nghĩa ngun của tiếng Latin “trancripto” có nghĩa là sao chép lại.
Cắt nghĩa ra thì phiên nghĩa là chuyển, âm là âm thanh. “phiên âm là nhằm chỉ
ra cách phát âm của một từ hoặc một âm nào đó bằng chữ hoặc những ký hiệu
riêng. Mục đích của phiên âm là phản ánh mặt âm thanh của ngơn ngữ”.
Hay nói cách khác: “phiên âm là cách ghi lại cách phát âm của ngoại ngữ
bằng hệ thống chữ cái của bản ngữ”
3.2.1.1. Phiên âm trực tiếp (phiên âm từ ngơn ngữ gốc)
Đây là phương pháp dựa vào cách đọc trong ngun ngữ, dùng chữ viết
của ngơn ngữ nước mình để phản ánh lại âm trong ngun ngữ. (phiên âm theo
ngơn ngữ gốc là phiên ngơn ngữ nước nào thì dựa vào cách đọc của ngơn ngữ
nước đó). [10, 73]
Ví dụ: MOKBA > MAXCƠVA
Những người chủ trương phiên âm đã đưa ra những lập luận về ưu điểm
của phương pháp này như sau:
- Phiên âm có thể phản ánh gần đúng cách đọc trong ngun ngữ. Do đó,
giúp cho người ta có thể nhận biết chính xác các tên riêng, đáp ứng cả cách đọc,
nói và viết.
- Cách phiên này có thể áp dụng với nhiều ngơn ngữ trên thế giới. Nếu
như trước đây chúng ta mới biết chủ yếu các thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga thì bây
giờ tình hình lại rất thuận lợi: hiện nay nước ta dặt quan hệ ngoại giao với nhiều
nước trên thế giới. Do đó, việc tìm hiểu ngơn ngữ của những nước này, tuy có
khó khăn nhưng khơng phải là điều khơng làm được.
- “Phương pháp phiên âm theo ngơn ngữ gốc dựa vào cách đọc để phiên
có thể áp dụng cho tất cả các ngơn ngữ khác loại hình: Hán, Tạng, Pali, Aráp
kể cả các dân tộc chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết. Phương pháp phiên âm
này dựa vào hệ thống âm vị và các qui luật kết hợp âm vị của ngơn ngữ phiên
(tiếng Việt) nên người Việt có thể đọc được, viết được và nhớ được một cách dễ
dàng” [17, 71]
-“Phiên âm dễ dàng và đơn giản cho quảng đại quần chúng có thể viết và
đọc được. Do đó, việc giao tiếp ngơn ngữ tốt hơn, sự cảm nhận thơng tin được
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
nâng cao, giữ gìn được bản sắc tiếng Việt, các qui tắc tiếng Việt, đúng chính tả
tiếng Việt, các âm vị , âm tiết rạch ròi khi đọc, dễ in ấn và xử lý thơng tin” [17]
- “Ngun tắc đầu tiên và quan trọng nhất khi sử dụng ngơn ngữ là phải
thuận tiện cho người bản ngữ. Mà người bản ngữ thì khơng bao giờ phát âm
đúng với ngun gốc được. Vậy để ngun dạng làm gì đằng nào chẳng phải
phiên âm theo bản ngữ” [6]
Bên cạnh đó, phiên âm trực tiếp cũng có nhiều nhược điểm
- “Sự thiếu chính xác trên mặt chữ đối với ngun ngữ, và ở một số
trường hợp là xa rời với ngun dạng (tất nhiên khơng phải là tất cả ) ví dụ: A
cơn sơ > A can xơ >Arkansas việc biết và đọc được các ngun ngữ , sự
phát âm khơng nhất qn do trình độ và còn do sự giới hạn của hệ thống chữ cái
tiếng Việt dẫn tới có nhiều cách đọc” [2, 71]
- “ Một phiên âm dễ dẫn tới nhiều cách đọc khác nhau, rốt cuộc cách viết
tên riêng nước ta khơng thống nhất được với thế giới mà cũng khơng thống nhất
được với ngay trong nước mình. Trên chữ viết thì khác hẳn chính tả nhưng phát
âm thì muốn giống người ta nhưng thực chất cũng chẳng giống với ai” [30]
- Cách phiên âm này, theo chúng tơi là rất khó khăn vì trên thế giới có
hàng ngàn thứ tiếng, có những ngơn ngữ mà ta chưa hề biết tới nên khơng thể
phiên âm được chính xác. Tham vọng về sự hiều biết thơng suốt các ngơn ngữ
xem ra là q xa vời nếu khơng muốn nói là khơng thể thực hiện được.
Phiên âm trực tiếp (phiên âm từ ngơn ngữ gốc) có hai cách
* Phiên âm âm vị học
Phiên âm âm vị học đòi hỏi các biến thể của âm vị phải được chuyển
thành một ký hiệu duy nhất. Do đó, người viết cần phải biết rõ hệ thộng âm vị
của ngun ngữ để phân tích và qui âm vị cho chính xác
* Phiên âm ngữ âm học
Phiên âm ngữ âm học thì phát âm thế nào ghi lại như thế
Phiên âm theo ngun tắc âm vị học có lợi là đơn giản vì số lượng ký hiệu
được sử dụng ít nhưng lại có một khó khăn lớn vì nó đòi hỏi người phiên phải
nắm được các thành phần âm vị của ngơn ngữ gốc và qui âm vị cho chính xác.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Vì những khó khăn như thế khi phiên âm âm vị hoc. Nên trong hai cách
phiên âm này người ta thường dùng phiên âm ngữ âm học. Khó khăn của
ngun tắc này là ở chỗ mọi biến thể âm vị phải được chuyển thành một ký hiệu
riêng. Do đó, ký hiệu phiên âm phải nhiều hơn
3.2.1.2. Phiên âm gián tiếp (phiên âm qua ngơn ngữ trung gian)
Cách phiên này áp dụng phổ biến trên sách báo trong suốt một thời gian
dài. Chủ yếu là phiên qua tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) kết quả là sự ra đời
của hàng loạt các địa danh trở nên quen thuộc với người Việt: Pháp, Anh, Đức,
Ý, Nhật, La Mã
Những địa danh này so với cách phiên trực tiếp thì ngắn gọn, dễ đọc và dễ
nhớ. Mặt khác, chúng gần gũi với các tên riêng tiếng Việt nên dễ trở thành quen
thuộc với nhân dân. Đây là điều lý giải tại sao nhân dân ta hay dùng cách phiên
âm này.
Phiên âm qua Hán Việt có nhiều nhược điểm. Nhược điểm chủ yếu của
cách phiên này là tên phiên khác xa với tên gốc cả về cách đọc lẫn cách viết, nó
làm cho người đọc khó nhận ra tên gốc. Cách phiên này từ trước tới nay được áp
dụng nhiều là vì trước kia do ảnh hưởng của tiếng Hán đến nước ta rất nặng nề,
hơn nữa do chỗ người ta khơng biết ngơn ngữ gốc nên phải phiên âm qua ngơn
ngữ trung gian.
Ngày nay, rất nhiều ngơn ngữ đã được đổi lại theo cách phiên âm trực tiếp
từ ngơn ngữ gốc.
Ơxtrâylia thay cho Úc và Úc đại lợi
Italia thay cho Ý và Ý đại lợi
Về vấn đề này, cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng khơng
nên thay đổi lại vì như thế sẽ gây trở ngại cho nhân dân. Họ nhấn mạnh tới tính
giản tiện và quen dùng.
“Đối với những tên đã thơng dụng, khơng nên thay đổi lại vì hai lý do:
hoặc để tránh khỏi bắt dân mình phải mất thì giờ học lại những tên mới xa lạ,
hoặc để tránh ln cho người nước ngồi phải học lại một lần nữa cách dân
mình phiên âm tên những từ thuộc nước họ” [19, 102]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Cùng với quan điểm trên Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Rõ ràng ta thấy
khơng có gì bất tiện khi dùng các tên nước ngồi như nước Anh, nước Pháp,
nước Nga thế thì tại sao lại cố đưa từ nước I- ta- li- a thay cho nước Ý đã quen
thuộc với mọi người”. [11, 95]
Suy cho cùng, dựa vào ngơn ngữ trung gian để phiên âm địa danh là một
việc làm khơng khoa học, vì như vậy là đi phiên một ngơn ngữ mới. Nói trung
gian là trung gian với những tên mình định phiên, còn khi đi vào cụ thể thì
người ta lại đi tiến hành cơng việc phiên âm qua ngơn ngữ gốc. Nghĩa là người
phiên âm phải có hiều biết về hệ thống âm vị, cách phát âm, những qui luật của
ngơn ngữ ấy.
Như vậy, dù phiên âm trực tiếp hay gián tiếp thì cũng có những khó khăn
khơng thể dung hồ được.
Theo GS. Hoµng ThÞ Ch©u trong khi trao ®ỉi víi chóng t«i: “Phiªn ©m
trùc tiÕp” vµ “phiªn ©m gi¸n tiÕp” vỊ b¶n chÊt, chÝnh lµ “ViƯt hãa”(qc ng÷
hãa nh÷ng ®Þa danh ®· ®−ỵc Latin hãa: t¸ch c¸c ©m tiÕt, thªm g¹ch nèi, thay ®ỉi
con ch÷, thªm dÊu thanh) vµ “H¸n ViƯt hãa”(®Ĩ nguyªn vµ viÕt t¾t). Trong khãa
ln nµy, chóng t«i thèng nhÊt c¸ch gäi : “phiªn ©m gi¸n tiÕp”, “phiªn ©m trùc
tiÕp” ®Ĩ chØ c¸c ®Þa danh ®· ®−ỵc ViƯt hãa hay H¸n ViƯt hãa theo nh÷ng c¸ch ë
trªn.
3.2.2. Chuyển tự (transliteration)
Chuyển tự (chuyển chữ) là chuyển cách viết từ một hệ thống chữ cái lối
này sang một hệ thống chữ cái lối khác dựa vào sự đối chiếu tương đương giữa
những chữ cái của hệ thống này với những chữ cái của hệ thống khác. Hay nói
cách khác, là sự đối chiếu tương đương giữa những ký hiệu khác nhau của
những hệ thống âm vị khác nhau, chẳng hạn từ một hệ thống chữ Xlavơ sang hệ
thống chữ cái Latin, như chuyển từ chữ Nga sang chữ Việt:
MOSKBA > MOSKVA
“Chuyển chữ khác với phiên âm, chuyển chữ chỉ chú ý đến dạng chữ,
khơng chú ý đến cách đọc, còn phiên âm chủ yếu là phản ánh trung thành âm
thanh của ngơn ngữ. Trong thực tế, khi chuyển chữ có thể có trường hợp giữa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét