nhằm tập trung nỗ lực và ưu tiên cho phát triển kinh tế. Việt Nam khơng thể
đứng ngồi xu thế này.
Xuất phát từ những xu hướng, u cầu đòi hỏi nói trên thì hội nhập kinh
tế quốc tế là một nhân tố vơ cùng quan trọng của q trình đổi mới kinh tế ở
Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một yếu tố khơng thể thiếu
trong chiến lược hướng ngoại để tăng trưởng và phát triển bền vững, chúng ta sẽ
có cơ hội thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực cũng như trên thế
giới, cải thiện vị thế của mình; đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu
khơng tranh thủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để vươn lên, đẩy mạnh sự
nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Chính vì vậy việc chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam là cần thiết để phát triển kinh tế, là đòi hỏi mang tính
khách quan tất yếu.
2.2. Vai trò và tác dụng của kinh tế đối ngoại.
Có thể khái qt vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại qua các mặt sau đây:
- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao
đổi quốc tế; nối liền thị trường trong nước và thị trường thế giới và khu vực.
- Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp
(FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế
(ODA); thu hút khoa học, kỹ thuật, cơng nghệ khai thác và ứng dụng những kinh
nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta.
- Góp phần tích luỹ vốn thực hiện sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước đưa đất nước ta từ một nước nơng nghiệp lạc hậu lên nước cơng
nghiệp tiên tiến hiện đại.
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều cơng ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân
theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh.
Những vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi hoạt động kinh
tế đối ngoại vượt qua được những thách thức của tồn cầu hố và giữ đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2.3. Mục tiêu của kinh tế đối ngoại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đối với nước ta, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm ừng
bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng dân chủ và văn
minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian trước mắt việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước - nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ q độ. Mục tiêu đó
phải được qn triệt tới mọi ngành, mọi cấp trong hoạt động kinh tế đối ngoại
cũng như phải được qn triệt trong mọi lĩnh vực của kinh tế đối ngoại.
3. Ngun tắc cơ bản cần qn triệt trong việc mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại.
a) Bình đẳng
Đây là ngun tắc có ý nghĩa rất quan trọng làm nền tảng cho việc thiết
lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước.
Ngun tắc bình đẳng này xuất phát từ u cầu phải coi mỗi quốc gia
trong cộng đồng quốc tế là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nó cũng bắt
nguồn từ u cầu của sự hình thành và phát triển của thị trường quốc tế mà mỗi
quốc gia là thành viên. Với tư cách là thành viên, mỗi quốc gia phải được đảm
bảo có quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ như mọi quốc gia khác. Nói cách
khác, đảm bảo tư cách pháp nhân của mỗi quốc gia trước luật pháp quốc tế và
cộng đồng quốc tế. Kiên trì đấu tranh để thực hiện ngun tắc này là nhiệm vụ
chung của mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển khi thực hiện mở cửa
và hội nhập ở thế bất lợi so với các nước phát triển.
b) Cùng có lợi
Nếu ngun tắc thứ nhất giữ vai trò chung cho việc hình thành và phát
triển quan hệ đối ngoại, thì ngun tắc này lại giữ vai trò là nền tảng kinh tế để
thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau.
Cơ sở khách quan của ngun tắc cùng có lợi bắt nguồn từ u cầu phải
thực hiện đúng các quy luật kinh tế của thị trường diễn ra trên phạm vi quốc tế
mà mỗi nước có lợi ích kinh tế dân tộc khác nhau. Cùng có lợi kinh tế là một
trong những ngun tắc làm cơ sở cho chính sách kinh tế đối ngoại và luật đầu
tư nước ngồi, ngun tắc này được cụ thể hố thành những điều khoản làm cơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
sở để ký kết trong các nghị định thư giữa các chính phủ và trong các hợp đồng
kinh tế giữa các tổ chức kinh tế các nước với nhau.
c) Tơn trọng độc lập, chủ quyền, khơng can thiệp vào cơng việc nội bộ
của mỗi quốc gia.
Ngun tắc này đòi hỏi mỗi bên trong hai bên hoặc nhiều bên phải thực
hiện đúng các u cầu :
- Tơn trọng các điều khoản đã được ký kết trong các nghị định giữa các
chính phủ và trong các hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau.
- Khơng được đưa ra những điều kiện làm tổn hại đến lợi ích của nhau.
- Khơng được dùng các thủ đoạn có tính chất can thiệp vào cơng việc nội
bộ của quốc gia có quan hệ, nhất là dùng thủ đoạn kinh tế, kỹ thuật và kích động
để can thiệp vào đường lối thể chế chính trị của các quốc gia đó.
d) Giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc và củng cố định hướng xã hội
chủ nghĩa đã chọn.
Đây là ngun tắc vừa mang tính chất chung cho tất cả các nước khi thiết
lập và thực hiện quan hệ đối ngoại, vừa là ngun tắc có tính đặc thù đối với các
nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta. Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa
các nước với nhau khơng đơn thuần phải xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế,
mà còn phải xử lý tốt mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị. Mở
rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao và bền
vững. Nhưng tăng trưởng kinh tế phải đi đơi với việc thực hiện từng bước những
đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Do vậy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải
chủ động đảm bảo sao cho vừa khai thác được nhiều nguồn lực bên ngồi, vừa
phát huy được nguồn lực bên trong bảo đảm phát triển kinh tế, trả được nợ, phụ
thuộc nhưng khơng lệ thuộc vào nước ngồi và xây dựng thành cơng chủ nghĩa
xã hội.
Bốn ngun tắc nói trên có quan hệ mật thiết với nhau và đều có tác dụng
chi phối hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nước trong đó có nước ta. Vì vậy,
khơng được xem nhẹ ngun tắc nào khi thiết lập duy trì và mở rộng kinh tế đối
ngoại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4. Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại.
a) Ngoại thương.
Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hố,
dịch vụ (hàng hố hữu hình hoặc vơ hình) giữa các quốc gia thơng qua xuất
nhập khẩu.
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm
và có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của
mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao
đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; "điều tiết thừa thiếu" trong
mỗi nước; nâng cao trình độ cơng nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo
cơng ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nhất là trong các
ngành xuất khẩu.
Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hố,
th nước ngồi gia cơng tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và
là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung và ở nước ta
nói riêng.
b) Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất.
Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia cơng, xây dựng xí nghiệp
chung, chun mơn hố và hợp tác hố sản xuất quốc tế
- Nhận gia cơng.
Nhận gia cơng cho nước ngồi là một hình thức rất tốt, giúp tận dụng
nguồn dự trữ lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng cơng suất máy móc hiện
có. Rất nhiều nước trên thế giới chăm lo đẩy mạnh hình thức này, kể cả những
nước và lãnh thổ "cơng nghiệp mới" như Hàn Quốc, Đài Loan Đối với nước
ta, trong những năm trước mắt, tăng cường việc nhận gia cơng là một phương
hướng đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược để mở rộng quan hệ kinh tế với nước
ngồi, ổn định tình hình kinh tế - xã hội trong nước.
Các ngành có hàm lượng lao động cao cũng thích hợp với nước ta bởi vì
chúng đòi hỏi ít vốn đầu tư, việc đào tạo cơng nhân cũng nhanh hơn việc đầu tư
cơng nhân cho các ngành có hàm lượng khoa học cao. Cần thấy rằng, muốn mở
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
rộng việc nhận gia cơng cho nước ngồi phải chọn những gì thế giới cần chứ
khơng thể chọn những gì mà chủ quan ta mong muốn.
- Một hình thức phổ biến khác là xây dựng những xí nghiệp chung
với sự hùn vốn và cơng nghệ từ nước ngồi.
Xí nghiệp chung hay hỗn hợp là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp,
dịch vụ và tổ chức tài chính - tín dụng Hiện nay, những xí nghiệp loại này
đang tồn tại một cách phổ biến ở nhiều nước. Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung
thường được tổ chức dưới hình thức cơng ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn
tương ứng với số vốn đóng góp của các thành viên. Các xí nghiệp này thường
được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu
hay thay thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo
điều kiện cho nhà nước tiết kiệm ngoại tệ. Ở nước ta hiện nay, hình thức này
đóng vai trò rất quan trọng.
- Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chun mơn hố.
Hợp tác sản xuất quốc tế có thể diễn ra một cách tự giác theo những
hiệp định hay hợp đồng giữa các bên tham gia, cũng có thể hình thành một cách
tự phát do kết quả cạnh tranh, do đầu tư và lập các chi nhánh của các cơng ty
xun quốc gia tại các nước.
Chun mơn hố bao gồm chun mơn hố những ngành khác nhau và
chun mơn hố trong cùng một ngành (chun mơn hố theo sản phẩm, theo bộ
phận sản phẩm hay chi tiết và theo cơng nghệ), hình thức hợp tác này làm cho
cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn
nhau.
c) Hợp tác khoa học - kỹ thuật.
Hợp tác khoa học kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao
đổi những tài liệu - kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh
nghiệm, chuyển giao cơng nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và cơng nhân.
Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn chi cho nghiên cứu khoa học
kỹ thuật còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chưa nhiều, phương tiện vật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chất còn thiếu thốn như nước ta thì việc tham gia hợp tác khoa học kỹ thuật với
nước ngồi là vơ cùng quan trọng. Đó là một điều kiện thiết yếu để rút ngắn
khoảng cách với các nước tiên tiến.
d) Đầu tư quốc tế.
Đầu tư quốc tế (trước đây Lênin gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức
cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là q trình trong đó hai hay nhiều bên
(có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu
tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
Đầu tư quốc tế có tính chất hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Nó làm
tăng thêm nguồn vốn, tăng cơng nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến,
tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài ngun, chuyển đổi cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới.
Mặt khác, đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hố giữa các giai
tầng trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài ngun, làm ơ nhiễm
mơi trường sinh thái, tăng tính lệ thuộc vào bên ngồi. Những điều bất lợi trên
đây cần được tính tốn và cân nhắc kỹ trong q trình xây dựng, thẩm định ký
kết và triển khai dự án được ký kết trong thực tế.
Có hai loại đầu tư quốc tế là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
- Đầu tư trực tiếp (Trước đây Lênin gọi là xuất khẩu tư bản hoạt động) là
hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu
tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ
chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro
trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu là của
doanh nghiệp và tư nhân.
- Đầu tư gián tiếp (Lênin gọi là xuất khẩu tư bản cho vay) là loại hình
đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn
khơng trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình
thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ
phần), hoặc có thể khơng thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu đãi). Nguồn vốn đầu
tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Chính sách thu hút vốn đầu tư của nước ngồi.
Cùng với chính sách ngoại thương, chính sách thu hút vốn đầu tư quốc
tế là một hình thức quan hệ kinh tế đối ngoại có tầm quan trọng chiến lược. Sau
những năm đổi mới, việc thực hiện chính sách này ở nước ta đã mang lại những
thành tựu nhất định.
e) Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ, du lịch quốc tế.
Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại.
Xu thế hiện nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với các hàng hố
khác trên thị trường thế giới. Với Việt Nam việc đẩy mạnh hoạt động dịch vụ
thu ngoại tệ là giải pháp cần thiết, thiết thực để phát huy lợi thế của đất nước.
Các hình thức thu ngoại tệ chủ yếu:
- Du lịch quốc tế.
Kinh tế càng phát triển, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du lịch -
nhất là du lịch quốc tế càng tăng vì thu nhập của con người tăng lên, thời gian
nhàn rỗi, nghỉ ngơi cũng nhiều hơn. Do đó ngành kinh tế du lịch nảy sinh trên cơ
sở nhu cầu khách quan, đó là sản phẩm và là một bộ phận trong hệ thống phân
cơng lao động xã hội. Phát triển ngành du lịch quốc tế sẽ phát huy lợi thế của
Việt Nam về cảnh quan thiên nhiên, về nhiều loại lao động đặc thù mang tính
dân tộc, truyền thống của Việt Nam.
- Vận tải quốc tế.
Vận tải quốc tế là hình thức chun chở hàng hố và hành khách giữa
hai nước hoặc nhiều nước. Sự phát triển của vận tải quốc tế có tác dụng tăng
nguồn thu ngoại tệ thơng qua vận tải và tiết kiệm chi ngoại tệ do phải th vận
chuyển khi nhập khẩu hàng hố.
Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt,
đường bộ, đường hàng khơng trong các phương thức đó, vận tải đường biển có
vai trò quan trọng nhất.Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, lại có nhiều hải
cảng thuận tiện cho vận tải đường biển nên có thể phát huy thế mạnh của mình
thơng qua việc đẩy mạnh vận tải quốc tế.
- Xuất khẩu lao động ra nước ngồi và tại chỗ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Việt Nam với số dân gần 80 triệu người, kinh tế chưa phát triển, là một
nước có thương mại lao động lớn. Việc xuất khẩu lao động mang lại nhiều lợi
ích trước mắt và lâu dài đó là: Thu được lượng ngoại tệ đáng kể cho người trực
tiếp lao động và cho ngân sách nhà nước; người lao động được rèn luyện tay
nghề và thói quen hoạt động cơng nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Khi hết hạn hợp đồng về nước, sẽ trở thành lực lượng lao động có chất lượng;
giải quyết việc làm, giảm được tỷ lệ thất nghiệp.
- Các hoạt động thu ngoại tệ khác.
Ngồi những hoạt động nêu trên, lĩnh vực kinh tế đối ngoại còn có nhiều
hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thơng tin
bưu điện, dịch vụ kiểu hối, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn
Nhìn chung các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ ở nước ta mới đang ở giai
đoạn hình thành và phát triển bước đầu. Những hoạt động này có triển vọng to
lớn. Tuy nhiên muốn đưa các hoạt động này thành một lĩnh vực quan trọng của
nền kinh tế, cần phải có cách nhìn đúng đắn về vai trò của chúng, cần đầu tư
thoả đáng và có các chính sách thích hợp tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân
sách nhà nước, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NAY
ĐẾN NĂM 2020.
1. Thực trạng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta.
Nhận thức rõ sự cần thiết, tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế và xuất
phát từ mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển kinh tế đẩy nhanh sự
nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố ngay từ trước những năm 1980, Đảng và
nhà nước ta đã chủ trương tích cực tham gia hội nhập khu vực và thế giới.
Đại hội Đảng lần thứ VII 1992 và lần thứ VIII năm (1996) tiếp tục phát
triển đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, đa dạng hố, đa phương hố các quan
hệ theo tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng
thế giới phấn đấu vì hồ bình độc lập và phát triển".
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đã khẳng định rõ chủ trương "phát
huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngồi và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững". Thực hiện
đường lối chủ trương của Đảng trong những năm qua, nước ta đã từng bước hội
nhập kinh tế quốc tế, nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại:
Ngày 28/7/1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đơng Nam Á
(ASEAN), đã đánh dấu một bước đột phá trong q trình hội nhập kinh tế quốc
tế. Ngay khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết về chương trình giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam để thực
hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của ASEAN và Việt
Nam đã ký nghị định thư cam kết thực hiện CEPT nhằm xây dựng khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA), theo Nghị định này Việt Nam cam kết sẽ cắt giảm
thuế quan nhập khẩu hàng hố trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0% - 5%
trong vòng 10 năm kể từ 1996 - 2006, đồng thời dỡ bỏ hàng rào phí thuế quan.
Việc cắt giảm thuế quan của Việt Nam được ASEAN đánh giá cao và thể hiện
quyết tâm của ta trong việc đẩy nhanh tiến trình hồn thành AFTA.
Hội nhập vào diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
(APEC): Tháng 11/1998 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của APEC.
Việt Nam đã cam kết thực hiện 14 /15 lĩnh vực chủ yếu nhất theo quy định cuả
APEC với 3 nội dung chính: Cập nhật những thay đổi về tình hình và cơ chế
quản lý hiện tại đối với 14/15 lĩnh vực cam kết; tổng kết thực hiện những cam
kết ngắn hạn mà Việt Nam đã làm; đưa ra những hoạt động bổ sung về các nội
dung có liên quan đến mục tiêu tự do hố Thương mại và đầu tư trong APEC.
Q trình hội nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tháng 6 /1994
Việt Nam được cơng nhận là quan sát viên của Hiệp định chung về thuế quan về
Thương mại GATT. Ngày 4/11/1995 chúng ta nộp đơn xin gia nhập WTO,
chúng ta đã đang và sẽ chuẩn bị điều kiện nhằm đáp ứng các u cầu của WTO
để sớm gia nhập tổ chức này trong thời gian tới như: Nộp cho WTO bản bị vong
lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam theo hướng mẫu quy định của tổ chức
này, thành lập Đồn đàm phán Chính phủ về việc gia nhập WTO, trả lời được
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1216 (Tính đến hết 2000 ) trong số 1376 câu hỏi của WTO đặt ra cho Việt Nam;
xây dựng một số tài liệu như bảng hiện trạng về hỗ trợ trong nước và trợ cấp
xuất khẩu đối với hàng nơng sản, bảng hiện trạng về doanh nghiệp Thương mại
nhà nước.
1.1. Những thành tựu quan trọng.
Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước đẩy mạnh q trình hội
nhập kinh tế quốc tế, đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
- Mở rộng mạnh mẽ quan hệ kinh tế song phương và đa phương; phát
triển quan hệ đầu tư với gần 70 nước và lãnh thổ; bình thường hóa quan hệ với
các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như IMF - quỹ tiền tệ quốc tế, ADB -Ngân
hàng phát triển Châu Á, gia nhập ASEAN; APEC, trở thành quan sát viên của
WTO, ký hiệp định khung về hợp tác kinh tế với liên minh Châu Âu (EU) và
hiệp định Thương mại song phương với hoa kỳ.
- Hội nhập kinh tế đã mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam
quan hệ bạn hàng được mở rộng. Tính trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) kim ngạch xuất khẩu của ta sang các nước thành viên cũng đã
tăng lên đáng kể. Xuất khẩu sang ASEAN của ta năm 1990 đạt 38,6 triệu USD
và 1777,5 triệu USD và năm 1998 đạt được 2349 triệu USD. Kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên của ASEAN; APEC; ASEM đều
tăng đáng kể. Đến nay, ta đã mở rộng quan hệ thương mại với trên 150 nước và
lãnh thổ trên thế giới.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước
ngồi (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA), hiện nay có trên 70 nước và
lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam trong đó có nhiều cơng ty và tập đồn
lớn có cơng nghệ tiên tiến. Điều này góp phần làm dịch chuyển cơ cấu trong
nước theo hướng cơng nghiệp, phát triển lực lượng sản xuất và tạo thêm cơng ăn
việc làm. Vốn đầu tư nước ngồi trong giai đoạn 1991 - 1995 chiếm 25,7% và
từ 1995 đến nay chiếm 30% trong vốn đầu tư xã hội. Kim ngạch xuất khẩu của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tăng nhanh. Nếu như năm 1991 đạt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét