Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Thực trạng và giải pháp quản lý chất lượng đào tạo tại TTDN ở TP HCM
Minh.
4. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp quản lý chất lượng đào tạo tại các
Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều khía
cạnh, góc độ song do hạn chế về thời gian và khả năng mà đề tài nghiên cứu của
chúng tôi chỉ giới hạn ở một số nhiệm vụ cơ bản sau đây
:
Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Làm rõ thực trạng đào tạo và thực trạng quản lý chất lượng đào tạo tại các
Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh về: đặc điểm, qui mô phát
triển đào tạo sau 15 năm, quản lý nhân sự, quản lý chương trình dạy nghề,
quản lý học viên, quản lý giáo viên, quản lý các khóa đào tạo nghề, giải
quyết việc làm.
Đề xuất một số giải pháp nâ
ng cao quản lý chất lượng đào tạo tại các Trung
tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để thực hiện được mục đích, và nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích tài liệu: đây là phương pháp tác giả sử dụng để thu
thập các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như sách, bá
o, tài liệu hội
thảo, báo cáo của các cơ quan chức năng như Tổng cục dạy nghề, Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội.
Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: đây là phương pháp được tác giả sử
dụng trong suốt quá trình làm đề tài. Tác giả tiến hành gặp gỡ, trao đổi,
phỏng vấn các chuyên gia dự án SVTC, tổ chức Unido, Trưởng phòng và
cán bộ chuyên trách phòng dạy nghề – Sở Lao động – Thương
binh và
Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám đốc và Trưởng phòng đào tạo/
trưởng phòng giáo vụ các Trung tâm dạy nghề nội thành Thành phố
Hồ Chí Minh về các vấn đề liên quan.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: đây là phương pháp mà tác giả sử dụng để
làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp.
Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò: nhằm mục đích làm rõ thực
trạng về quản lý chất lượng đào tạo tại các Trung tâm dạy nghề ở Thành
phố Hồ Chí Minh với 272 mẫu đại diện được chọn theo phương pháp khách
quan ngẫu nhiên ở các đối tượng là cán bộ quản lý phòng Dạy nghề, cán bộ
lãnh đạo quản lý các Trung tâm dạy nghề, giáo viên các Trung tâm dạy
nghề.
Xuất phát từ đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi đã xây
dựng công cụ nghiên cứu là bộ câu hỏi điều tra bằng phiếu nhằm làm rõ thực trạng
quản lý của
các trung tâm dạy nghề các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh, cụ
thể như sau:
- Quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề.
- Quản lý nội dung, chương trình đào tạo.
- Quản lý quá trình giảng dạy.
- Quản lý quá trình học tập của học viên.
- Quản lý về đánh giá.
- Kết quả quá trình đào tạo.
Phương pháp toán thống kê: tác giả dùng phương pháp này để phân tích và
xử lý các số liệu điều tra nhằm định hướng các kết quả nghiên cứu: thống
kê tần số, tính tỷ lệ %.
Phương pháp tổng hợp kết luận: dựa vào phương phá
p này tác giả đánh giá
thực trạng đào tạo nghề và đề xuất những giải pháp.
6. ĐỊA ĐIỂM CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tác giả nghiên cứu thực trạng quản lý của 11 Trung tâm dạy nghề các quận,
huyện nội thành Thành phố Hồ Chí Mi
nh là 1, 2, 3, 4, 5, 6, Gò Vấp, Bình Thạnh,
Thủ Đức, Bình Chánh, Tân Bình.
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiện nay, công tác quản lý các trung tâm dạy nghề chưa theo kịp với tốc độ,
qui mô phát triển, và yêu cầu của công tác quản lý trong giai đoạn mới. Nếu làm rõ
được thực trạng tại các Trung tâm dạy nghề và đề ra được các giải pháp quản lý sẽ
nâng cao chất lượng đào tạo tại các Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh.
8. ĐÓNG GÓP
MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này khi thực hiện thành công sẽ:
Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong
đó có giải pháp quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn VN ISO
9001:2000, một trong những biện pháp quản lý tốt nhất hiện áp dụng
tại các nước có nền giáo dục dạy nghề tiên tiến trong khu vực và thế
giới.
Là một trong những tài liệu tham khảo cho các trung tâm dạy nghề có
dự định xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn VN
ISO 9001:2000 tại đơn vị.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3
phần:
Phần I: Mở đầu: giới thiệu khái quát đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối
tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Phần II: Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng đào tạo và thực trạng quản lý tại các Trung tâm
dạy nghề ở Thà
nh phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo tại
các Trung tâm dạy nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Phần III: Kết luận và kiến nghị.
Phụ lục:
Một số qui trình quản lý áp dụng tại Trường Kỹ thuật công nghệ Hùng
Vương (trước là Trung tâm dạy nghề quận 5).
Thư mục sách tham khảo.
Công cụ nghiên cứu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm.
1. 1.1. Khái niệm về quản lý.
1.1.1.1. Khái niệm: Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn
từ tính chất xã hội của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục
đích của con người. Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã đòi hỏi
phải có sự phối hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống và do đó cần
có sự quản lý. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, các qua
n hệ kinh tế, quan hệ
xã hội càng tăng lên thì sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ càng tăng lên.
Ngày nay, hầu như tất cả mọi người đều công nhận tính thiết yếu của quản
lý và thuật ngữ quản lý đã trở thành câu nói hàng ngày của nhiều người, từ
người lãnh đạo cao nhất đến người dân bình thường.
Như vậy, quản l
ý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi
lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã
hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm
một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. K.Marx đã viết “Tất cả mọi lao
động xã hội trực tiếp hay l
ao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối
lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mì
nh điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì
cần phải có nhạc trưởng”
Trong đời sống kinh tế – xã hội, vấn đề quản lý trở nên hết sức phức tạp.
Việc quản lý trường học do đặc điểm hoạt động riêng của lĩnh vực mà việc quản
lý cũng có tính đặc thù và phức tạp nhất định.
Cho đến nay, về cơ bản có thể định nghĩa: quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của c
hủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục
tiêu đã đề ra.
Trong định nghĩa trên, ta thấy nổi bật một số điểm sau:
Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác
định.
Quản lý thể hiện mối qua
n hệ giữa hai bộ phận: đó là chủ thể quản lý
(là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối
tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý). Đây là quan hệ ra lệnh –
phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
qui luật khách quan.
Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
1.1.
1.2. Bản chất của quản lý: quản lý là hoạt động chủ quan của chủ thể
quản lý vì mục tiêu, lợi ích của tổ chức, đảm bảo cho hệ thống tồn tại và phát
triển. Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý phản ánh chủ yếu lý tưởng, ý chí,
nhân cách của chủ thể quản lý trong mối quan hệ với hệ bị quản lý.
1.1.
1.3. Các qui luật của hoạt động quản lý: để quản lý thành công, nhà
quản lý phải nắm được các qui luật, mối quan hệ giữa các qui luật, phải hiểu biết
sâu sắc, tường tận về những qui luật quản lý cần thiết. Do đó, có thể nói rằng
quản lý là quá trình nắm vững các qui luật khách quan, tác động lên chúng và
hành động theo những qui luật đó. Người ta đã phát hiện những qui luật cơ bản
của quản lý như sau:
Các qui luật kinh tế trong quản lý.
Các qui luật tâm lý trong quản lý.
Qua nghiên cứu người ta đã khẳng định rằng tâm lý học quản lý là một
tiềm năng to lớn của hoạt động quản lý. Con người nếu được làm việc trong
những điều kiện sảng khoái, tin tưởng thì hiệu quả tăng lên nhiều lần và ngược
lại. Sự khác biệt tâm lý cá nhân là qui luật tâm lý cơ bản, là vấn đề cốt lõi mà
các nhà quản lý phải nắm bắt để tổ chức cho hoạt động của con người.
Có khá nhiều quan niệm
và cách hiểu về quản lý. Chúng tôi chọn lọc và
xin giới thiệu một số định nghĩa như sau:
a) “Quản lý là chức năng của các hệ thống có tổ chức với bản chất khác
nhau (hệ thống kỹ thuật, hệ thống sinh học, hệ thống xã hội) bảo toàn cơ cấu của
chúng, duy trì một trạng thái xác định hay c
huyển thành trạng thái khác một các
phù hợp với các qui luật khách quan của sự tồn tại của hệ thống ấy, với việc
thực hiện chương trình hay với mục đích đặt ra một cách có ý thức. Quản lý
được thực hiện bằng con đường tác động của một tiểu hệ thống (quản lý) này
đến một tiểu hệ thống khác (được quản lý), đến các quá trình diễn ra trong nó
thông qua tín hiệu thông tin hay hoạt động quản lý” (Từ điển quản lý xã hội –
Nguyễn Tấn Dũng, Đỗ Minh Hương – NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội, 1998).
b) Theo khoa học quản lý của F.W Taylor “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ
chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt
nhất, rẻ nhất” (Các học thuyết quản lý – Nguyễn Thị Doa
n – NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996).
c) “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích cúa nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý
là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vậc chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
(Khoa học quản trị - Nguyễn Văn Lê, Tạ Văn Doa
nh – NXB TP.HCM, 1994).
d) Theo trường phái tâm lý “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học
và nghệ thuật tác động vào hệ thống, mà chủ yếu là vào những con người, nhằm
đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội xác định” (Khoa học quản trị - Nguyễn Văn Lê,
Tạ Văn Doanh – NXB TP.HCM, 1994).
e) “Quản lý là khoa học và nghệ thuật, tư cách thực hành thì cách quản lý
là một nghệ thuật, còn các kiến thức về quản lý là một khoa học” (Khoa học
quản trị - Nguyễn Văn Lê, Tạ Văn Doa
nh – NXB TP.HCM, 1994).
f) Công việc của đại nhân (người quản lý – cai trị) chỉ là ở chỗ tập trung
được xung quanh mình nhiều người hiền” (Mặc Tử - Vai trò con người trong
quản lý doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995).
g) “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau
đó hiểu được rằng họ đã hoàn t
hành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất (F.W
Tay lor,Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường,
Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
h) “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức và điều phối,
phối hợp và kiểm tra (H.Fayol,Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp –
Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
i) “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của mình được thực hiện
thông qua người khác (M.P.Pollet, Vai trò con người trong quản lý doa
nh
nghiệp – Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995).
k) “Quản lý không phải là công việc của tổ chức, mà là công việc chuyên
môn duy trì hoạt động của tổ chức. Điều chủ yếu cho sự tồn tại của một tổ chức
là sẵn sàng hợp tác, khả năng thông tin, sự tồn tại, sự thừa nhận của mục đích
(C.Barnard, Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường,
Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
l) “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy si
nh khi có nỗ lực thực hiện các
mục tiêu chung (M.Pinto, Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp – Đỗ
Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
m) “Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn
tác động tới hành động của con người và tạo ra điều kiện thay đổi để đạt mục
tiêu của tổ chức (R. Albernese, Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp –
Đỗ Mi
nh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
n) “Quản lý là một trò chơi tập thể. Hiệu quả của một nhà quản lý là hiệu
quả của tổ chức mà anh ta chịu trách nhiệm” (Vai trò con người trong quản lý
doanh nghiệp – Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn – NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995).
Các định nghĩa trên đã nêu được những đặc trưng cơ bản nhất của quản l
ý,
nhấn mạnh yếu tố con người trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản
lý.
Tóm lại, quản lý là một khái niệm rất phổ biến, là khoa học và nghệ thuật
tác động vào đối tượng mà chủ yếu là vào con người, nhằm đạt hiệu quả tối ưu
theo mục tiêu đã đề ra.
Mỗi một đơn vị quản lý đều bao gồm hai bộ phận: bộ phận quản lý và bộ
phận bị quản lý.
Bộ phận quản lý còn gọi là chủ thể quản lý, là một cá nhân, một tập t
hể
hay một tổ chức được giao trách nhiệm quản lý đơn vị. Cá nhân được giao trách
nhiệm quản lý gọi là thủ trưởng đơn vị.
Bộ phận bị quản lý còn gọi là đối tượng quản lý. Giữa quản lý và lãnh đạo
có sự khác nha
u nhất định. Lãnh đạo chủ yếu vạch ra đường lối chính trị hay
phương hướng chỉ đạo. Còn quản lý chủ yếu là tác động vào đối tượng bị quản
lý để thực hiện đường lối chính trị đã đề ra.
Quản lý là một khoa học: khoa học quản lý là một khoa học ứng dụng. Nó
dựa trên các phương pháp khoa học lấy từ các khoa học khác như: toán học,
kinh tế chính trị học, tin học, tâm lý học xã hội….
Quản lý là một nghệ thuật: một bộ phận công tác quản lý là sự tác động
trực tiếp giữa con người với con người. Trong trường hợp này năng suất lao
động phụ thuộc một phần vào mối quan hệ giữa người với người.
Rõ ràng, việc quản lý như thế đòi hỏi phải có nghệ thuật. Nghệ th
uật đó
thể hiện ở thái độ cư xử có văn hóa, khôn ngoan, và tế nhị trong việc vận dụng
các nguyên tắc vào con người nói chung và vào từng con người cụ thể. Nghệ
thuật quản lý con người chủ yếu là dựa vào các qui luật tâm lý học.
1.1.2. Khái niệm về quản lý giáo dục.
Cho đến nay cũng có nhiều định nghĩa về “quản lý giáo dục”, nhưng tr
ên
bình diện chung, những định nghĩa này đều thống nhất về mặt bản chất.
Theo M.Zade thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm bảo
đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm
sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng”
Theo P.V. Khudominxki thì “Quản lý giáo dục là việc xác định những đường
lối cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ qua
n trong hệ thống giáo dục”.
Theo F.G.Panatrin thì “Quản lý giáo dục là tác động một cách có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự phát tirển
toàn diện, hài hòa ở thế hệ trẻ.”
Tiến sỹ Nguyễn Gia Quí thì khái quát “Quản lý là sự tác động c
ó ý thức của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu
đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những qui luật khách quan của
hệ thống giáo dục quốc dân” (Bản chất của hoạt động quản lý – Nguyễn Gia Quí
– Hà nội, 1996).
GS.TS Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất” (Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo
dục- GS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Trường Cán bộ quản lý giáo dục đào tạo I,
Hà Nội, 1989).
1.1.2.1. Nhiệm vụ của công tác quản lý giáo dục: nhiệm vụ của công tác
quản lý trong nhà trường là tổ chức, phối hợp và điều chỉnh sự hoạt động của
mọi thành viên trong nhà trường nhằm sử dụng hợp lý và phát huy mọi khả năng
vật chất và tinh thần trong nhà trường để phục vụ tốt nhất cho quá trình đào tạo.
Nhiệm vụ chung nói trên bao gồm những nhiệm vụ cụ thể sau:
Bảo đảm đường lối, chủ trương, chính sách nói chung của Đảng và
Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh và có kết quả tốt trong nhà
trường.
Bảo đảm các chương trình, kế hoạch được thực hiện về mọi mặt; các
điều lệ, chế độ, nội qui được chấp hành, làm
cho mọi hoạt động trong
nhà trường được thực hiện nhịp nhàng, cân đối và có chất lượng cao.
Bảo đảm sự đoàn kết nhất trí trong toàn trường, động viên mọi khả
năng tiềm tàng để đội ngũ giáo viên phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp
giáo dục – đào tạo.
1.1.2.2. Mục tiêu quản lý: mục tiêu quản lý giáo dục là yếu tố cơ bản của
hệ thống quản lý. Mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái của hệ thống m
à ta
muốn thu được. Trạng thái hay kết quả đó hiện chưa có hoặc đang có nhưng ta
muốn duy trì. Trạng thái hay kết quả chỉ đạt được thông qua các tác động quản
lý.
1.1.2.3. Chức năng quản lý: chức năng quản lý giáo dục là những loại
công việc được lặp đi lặp lại theo những chu kỳ nhất định nhằm thực hiện mục
tiêu quản l
ý. Các công việc thuộc chức năng quản lý giáo dục được phân loại
theo bước công việc của quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác.
Các bước công việc đó là:
Chức năng kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là căn cứ vào thực trạng của nhà
trường và căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của nhà
trường tr
ong từng thời kỳ, từng giai đoạn và từ đó tìm ra con đường, biện
pháp, cách thức đưa nhà trường đạt được mục tiêu đó.
Chức năng tổ chức: tổ chức là những nội dung và phương pháp hoạt
động cơ bản trong việc thiết lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó
chủ thể quản lý tác động đến đối tượng một cách có hiệu quả nhằm thực
hiện được mục tiêu của kế hoạch. Chức năng tổ chức ở đây được hiểu
theo nghĩa là tổ chức sự hoạt động của tập thể giáo viên, học viên, và cán
bộ - công nhân viên để thực hiện các kế hoạch công tác.
Chức năng chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản l
ý nhằm
điều hành, tổ chức nhân lực đã có của tổ chức (đơn vị) vận hành theo
đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu quản lý.
Chức năng kiểm tra và đánh giá kết quả:
Kiểm tra: kiểm tra là một chức năng phổ biến trong mọi quá trì
nh
quản lý. Kiểm tra là nhằm thu thập được các thông tin và tình hình
thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh và các nhiệm
vụ quan trọng khác.
Đánh giá kết quả: đánh giá chất lượng đào tạo là đánh giá mức độ
thực hiện mục tiêu quản lý. Đây là một hoạt động phức tạp đòi hỏi
vừa phải phân tích vừa phải tổng hợp và c
ó thể nói đây là một chức
năng rất khó thực hiện. Đánh giá các hoạt động của con người, một
tập thể hay một nhà trường trước hết cần phải dựa vào các kết quả cụ
thể, tiếp đó là dựa vào quá trình hoạt động đưa đến kết quả, cố gắng
của con người trong hoàn cảnh cụ thể. Việc đánh giá như vậy có t
ác
dụng động viên, khích lệ con người rất lớn.
1.1.2.4. Nguyên tắc quản lý. Các nguyên tắc quản lý là những qui luật
chung nhất của quản lý, trong thực tế đó là những yêu cầu chung nhất mà người
quản lý phải tuân theo khi tiến hành các hoạt động của mình, để đảm bảo cho
mục tiêu quản lý được thực hiện.
Trong lý luận về công tác quản lý, người ta có
những nguyên tắc có tính
chất chung cho bất kỳ nhiệm vụ quản lý nào, và những nguyên tắc riêng cho
từng hệ thống quản lý (sản xuất, phân phối, lưu thông, các hoạt động văn hóa, xã
hội…). Trong nhà trường, tuỳ theo từng nước và tuỳ theo từng nhà nghiên cứu,
đã có những cách trình bày khác nhau về các nguyên tắc quản lý, và số lượng
các nguyên tắc nêu lên cũng không giống nhau, nhưng tựu trung lại đều bao
gồm những nội dung sau:
Nguyên tắc thống nhất quan điểm sư phạm v
à chính trị: nguyên tắc này
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét