Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
dịch cơ cấu kinh tế .
Một là: chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm do sản xuất vượt trội nhu cầu tiêu
dùng. Theo cách này, nếu một nến kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất
chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà cứ chờ đợi sự dư thừa của sản
xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp.
Hai là: coi thị trường thế giới là tương quan của sản xuất. Quan điểm này xuất
phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Theo quan điểm này, xuất
khẩu phải có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển, nó được thể hiện ở
-Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội cùng phát triển
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất
phát triển
- Xuất khẩu tạo điều kiện tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và hoàn
thành công việc quản trị sản xuất kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hóa trên thị trường thế giới
Ba là xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống thể hiện trên nhiều phương diện, trước
hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với mức
thu nhập khá. Thực tế đã cho thấy mức lương của cán bộ công nhân viên tại các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã dần được nâng lên, đến nay là tương
đối cao. Bên cạnh đó xuất khẩu còn là nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp
ứng nhu cầu của nhân dân.
Bốn là xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại và phụ thuộc
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
lẫn nhau. Xuất khẩu là bộ phận quan trọng của hệ thống kinh tế đối ngoại. Thực hiện
hoạt động xuất khẩu có liên quan đến nhiều lĩnh vực như hoạt động ngân hàng quốc
tế , vận tải quốc tế… Vì vậy, khi xuất khẩu phát triển các hoạt động này cũng phát
triển theo. Mặt khác các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo điều kiện mở rộng cho
xuất khẩu.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản
2.1 Nhân tố thuận lợi
2.1.1 Điểu kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm
lớn khoảng 1500-2000mm. Độ ẩm dưới 80% nên rất thuận lợi cho nuôi trồng các loại
hải sản quý có giá trị kinh tế cao.
Bờ biển Việt Nam trải dài hơn 3260km trung bình cứ 20km có một cửa sông
thông ra biển. Các cửa sông này chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều khá phức tạp
nên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đa dạng hoá các sản phẩm thủy sản xuất
khẩu chủ lực mà thị trường thế giới có nhu cầu, mặt khác còn tạo điều kiện tiếp cận
dễ dàng với mọi thị trường trên thế giới và khu vực bằng đường biển nên các sản
phẩm thủy sản được bán ra nước ngoài dễ dàng hơn.
Nhìn chung có thể phát triển thủy sản trên toàn đất nước, ở mỗi vùng có tiềm
năng, đặc thù và sản vật đặc sắc riêng. Tuy nhiên, Việt Nam có một vùng sinh thái
thấp đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long và châu thổ sông Hồng, nơi có thể đưa
nước mặn vào rất sâu tạo ra một vùng nước lợ chuyên hoặc nuôi trồng thủy sản kết
hợp với trồng lúa thì sẽ tạo ra sản phẩm nuôi trồng có chất lượng cao, chi phí thấp mà
các nước khác không có được. Lợi thế này đặc biệt phát huy thế mạnh trong cạnh
tranh với hệ thống nuôi trồng công nghiệp khi mà giá cả thủy sản trên thị trường thế
giới ở mức thấp, nhất là mặt hàng tôm.
2.1.2 Yếu tố kinh tế xã hội
Việt Nam chưa phát triển nuôi thủy sản công nghiệp nên còn nhiểu tiềm năng
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
đất đai, vùng ven biển để phát triển nuôi trồng thủy sản mà không ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái. Việc đưa thành công kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cát ven
biển đã mở ra một tiềm năng và triển vọng mới cho phát triển các vùng nuôi tôm và
hải sản khác theo phương thức nuôi công nghiệp nhất là đối với vùng Duyên Hải dọc
bờ biển miền trung, tạo được nguồn cung dồi dào cho hoạt động xuất khẩu thủy sản
sang các nước trong khu vực và trên thế giới
Ngày nay khi nước ta đã là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương
mại thế giới WTO. Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam sẽ dễ dàng xuất
khẩu vào thị trường các nước là thành viên của WTO tạo điều kiện thuận lợi đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường thế giới và khu vực.
Đến nay đã có 61 doanh nghiệp nằm trong danh sách xuất khẩu đi EU, gần
100 đơn vị áp dụng tiêu chuẩn HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Mỹ, Nhật Bản.
Những cơ sở nâng cấp, mở rộng sản xuất, trên 40 cơ sở sản xuất mới có công nghệ
hiện đại sẽ xây dựng ở địa phương gần nguồn nguyên liệu. Hơn nữa hiện nay hải sản
tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn của người dân trên thế giới, đặc
biệt là người Nhật và Mỹ. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thủy sản
Việt Nam chế biến các loại sản phẩm đa dạng phong phú để xuất khẩu.
2.1.3 Các yếu tố khác
Do đường lối của Đảng và nhà nước tạo điều kiện cơ hội tốt nhất cho các
doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh đẩy mạnh
xuất khẩu thủy sản ra thị trường thế giới. Nhà nước đã cung cấp vốn tín dụng ưu đãi
và chính sách ưu đãi cho các chủ đầu tư tham gia vào chương trình phát triển xuất
khẩu thủy sản cụ thể: trong 5 năm đầu nuôi trồng thuỷ sản được miễn các loại thuế
đất, thuế thu nhập, giảm 50% cho 5 năm tiếp theo kể từ khi dự án đi vào sản xuất
kinh doanh. Đối với chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, ngư dân được vay vốn với
lãi xuất ưu đãi 0,81%/ tháng, thời hạn hoàn vốn là 7 năm, vốn đối ứng của dân là
15%.
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Bên cạnh đó, nhà nước còn có sự hỗ trợ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư khoa
học kỹ thuật . Bộ thủy sản đã tập trung ban hành các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực
phẩm tương đương với các nước nhập khẩu, nâng cao năng lực cơ quan kiểm soát an
toàn vệ sinh thực phẩm và tập trung trung tâm cơ sở sử chữa, nâng cấp nhà xưởng.
Với sự hỗ trợ tích cực của dự án cải thiện chất lượng và xuất khẩu thủy sản
(SEAQIP) doanh nghiệp Đan Mạc tài trợ. Bộ thủy sản đã tiến hành nhiều hoạt động
xúc tiến thương mại, tổ chức các kênh thông tin về thị trường.
2.2 Nhân tố khó khăn và thách thức
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất nước ta hàng năm chịu ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt bão quét, khô hạn
gây nhiều khó khăn cho việc sản xuất nuôi rrồng thủy sản, khó khăn trong việc cung
cấp các sản phẩm thủy sản xuất khẩu một cách thường xuyên và liên tục. Hơn nữa
với điều kiện thiên tai như thế mà ngành thuỷ sản lại chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi
các yếu tố tự nhiên nên cũng hạn chế vào quá trình đầu tư sản xuất., nuôi trồng của
các cá nhân và doanh nghiệp vì mức độ rủi ro là rất cao. Vậy để hạn chế thiệt hại về
phía nhà nước cần có sự chỉ đạo công tác dự báo thời tiết thật chính xác và kịp thời
cho người dân kịp ứng phó, còn về phía người sản xuất nuôi trồng thủy sản cần chủ
động phòng chống khi có thông tin về thiên tai của nhà nước nhằm giảm thiểu rủi ro,
thiệt hại cho mình.
2.2.2 Yếu tố kinh tế xã hội
Tính cạnh tranh trên thị trường thế giới rất cao, mặc dù nước ta có một số thị
trường xuất khẩu thủy sản lớn như Nhật Bản, Mỹ, EU … Nhưng các thị trường cũng
là nơi được chú ý của rất nhiều nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới. Trong đó có
những nước cũng có lợi thế tương tự như nước ta đều coi thị trường đó là thị trường
chiến lược của mình và quyết tâm dành thị phần cao trên thị trường thế giới. Đây
cũng là khó khăn tác động đến khả năng thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu chưa hợp lý, biểu hiện tôm vẫn chiếm tỷ
trọng cao trong sản lượng thủy sản xuất khẩu năm 2005 chiếm tỷ lệ 41.3% trong khi
đó một số loại thủy sản khác cũng có giá trị kinh tế cao chưa được phát triển . Người
sản xuất kinh doanh mới chỉ chú trọng vào tăng số lượng, sản lượng chưa quan tâm
đến chất lượng sản phẩm. Chưa có nhiều sản phẩm tiêu biểu đặc sản mang bản sắc
riêng của Việt Nam. Công nghệ đánh bắt nuôi trồng bảo quản và chế biến, mẫu mã
bao bì thủy sản chưa tốt.
Gía cả nguyên vật liệu thủy sản phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu tăng
cộng với giá xăng dầu liên tục tăng trong những năm qua làm cho chi phí vận chuyển
tăng theo, nên chi phí sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản có xu hướng tăng
nhanh, làm giảm khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam.
Tỷ lệ thủy sản xuất khẩu đã qua chế biến chưa cao, hơn nữa hình thức xuất
khẩu trực tiếp vào các thị trường thế giới chưa cao, chủ yếu là xuất khẩu qua một số
thị trường trung gian như ( Hông Kông, Đài Loan, Singapor ) nên lợi nhuận thấp.
Tình trạng thiếu vốn ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, doanh nghiệp
phải tự lo vay vốn ngân hàng làm ảnh hưởng đến giá thành xuất khẩu. Trình độ học
vấn và tay nghề của công nhân ngành thủy sản chưa cao làm ảnh hưởng đến sự phát
triển xây dựng uy tín của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng tiêu chuẩn. Mặt
khác, trình độ quản lý ở một số cán bộ còn chưa khoa học. Điều này thể hiện rõ ở
nhiều mặt từ quy hoạch xây dựng dự án, kế hoạch đến phương thức thực hiện, biện
pháp quản lý, cần được điều chỉnh cho phù hợp.
2.2.3 Các yếu tố khác
Ngoài những yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động xấu đến hoạt
động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn một số yếu tố khác cũng gây khó khăn
trong việc thúc đẩy quá trình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam như: vấn đề vệ sinh
an toàn thực phẩm, dư lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản phải đảm bảo đúng
tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu, vấn đề về thuế quan, hạn ngạch, các hàng rào kỹ
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
thuật của các nước đặt ra đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam rất khắt khe,
gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
3.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả xuất khẩu thủy sản
3.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Kể từ năm 2000 đến nay,ngành thủy sản vẫn duy trì sự tăng trưởng với tốc dộ
đáng kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2004 đạt 2,4 tỷ USD tăng gần 1 tỷ
so với năm 2000 chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm 2005 tổng
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 2,74 tỷ USD, tăng 0,34 tỷ so với năm
2004 và đạt 114% so với năm 2004. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2006
đạt 3.1tỷ USD đạt 113% so với năm 2005, tăng 13% . Như vậy kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam không ngừng tăng trong những năm vừa qua , với tốc độ tăng
bình quân các năm trên 10%. điều này chứng tỏ hoạt động xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam cũng đạt được những kết quả nhất định.
3.2 Sản lượng thủy sản xuất khẩu
Tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2000 đạt 2 triệu tấn,
đến năm 2005 tổng sản lượng đạt 3,34 triệu tấn. Như vậy sau 5 năm sản lượng đã
tăng 1.34 triệu tấn tương ứng tăng 71.5%, bình quân mỗi năm tăng 0.286 triệu tấn
tương ứng 10.8% so với năm 2005
Về cơ cấu sản lượng thủy sản trong các năm qua đang dần dần thu hẹp khoảng
cách giữa khai thác và nuôi trồng. Năm 2005 sản lượng khai thác là 1.995 triệu tấn,
nuôi trồng là 1,437 triệu tấn băng 72,21% so với sản lượng khai thác. Năm 2006 sản
lượng khai thác 2,13 triệu tấn, nuôi trồng là 1,67 triệu tấn bằng 78,5% so với khai
thác. Như vậy qua các năm từ năm 2000 đến nay tỷ trọng sản lượng nuôi trồng đang
có xu hướng tăng nhanh hơn tốc độ của khai thác. điều này là hoàn toàn phù hợp với
quá trình phát triển ngành thủy sản bởi lẽ tiềm năng khai tháclà có hạn và tiềm năng
nuôi trồng là vô hạn. Chúng ta phải giảm khai thác và tăng sản lượng nuôi trồng để
tránh cạn kiệt nguồn tài nguyên
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
3.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản
Trước đây thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam khá hạn hẹp, Đến nay
Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản đến khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Trong một số thị trường xuất khẩu, thị trường Mỹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thị
trường Nhật Bản trược kia chiếm tỷ trọng 50-60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam, đến nay chỉ còn dưới 30%, Mỹ đã vượt lên thay thế Nhật Bản trở thành thị
trường Xuất khẩu số một của Việt Nam vào năm 2001 và chiếm 38% kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2005. Trung Quốc trước đây chỉ chiếm khoảng 2%
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đã vươn lên đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật
Bản và chiếm 18% vào năm 2005. Thị trường EU tăng rất mạnh mẽ nhưng tỷ trọng
chỉ chiếm từ 8-10 %. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong
những năm gần đây đã có sự biến đổi tích cực, đang có xu hướng đa dạng các thị
trường tiêu thụ và dần có sự cân bằng giữa các thị trường xuất khẩu tăng cường khai
thác các thủy sản tiềm năng như Trung Quốc, Mỹ, EU.
4. Những kinh nghiệm phát triển xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
4.1. Tôm Việt Nam bị kiện bán phá tại thị trường Hoa Kỳ
4.1.1. Thông tin chung :
Việc một mặt hàng bị kiện bán phá giá là việc phổ biến trong hoạt động thương
mại giữa các nước hiện nay. Bà Đinh Thị Mỹ Loan cho biết trong vòng 10 năm từ
năm 1995 đến nay các doanh nghiệp thuộc thành viên của WTO đã đương đầu với
2840 vụ kiện bán phá giá trong đó 1804 trường hợp được kết luận bán phá giá, chiếm
63.25% trong đó năm 2002 và 2003 được coi là những năm có số vụ bán phá giá
được kết luận nhiều nhất trong vòng 5 năm qua. Nhưng doanh nghiệp làm ăn tại thị
trường Mỹ là dễ bị kiện nhất.
Còn đối với Việt Nam: Theo cục cạnh tranh,tính đến tháng 8/ 2006 , Việt Nam
đã đương đầu với 28 vụ kiện bán phá giá .Trong đó đã có 23 vụ trường hợp được kết
luận là có bán phá giá và đã bị áp thuế chống bán phá giá, có 3 vụ kiện tính từ 1994 –
1998 rơi vào các mặt hàng như gạo, mỳ chính, giầy dép hai vụ tỏi và bật lửa (trong
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
năm 2000 – 2001) . Năm 2004 – 2005 kỷ lục về số vụ bán phá giá được các thị
trường EU, Achentina, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pêru khởi kiện doanh nghiệp Việt
Nam.
Phải chăng xuất khẩu tôm của Việt Nam càng tăng mạnh, hoạt động thương mại
diễn ra càng nhiều thì các vụ kiện bán phá giá cũng vì thế mà nhiều hơn ?
Cục cạnh tranh cho biết các vụ kiện của Việt Nam chủ yếu các mặt hàng xuất
khẩu lớn như cá, tôm, giầy dép, dệt may… Và các trường hợp của Việt Nam đều
chung thời điểm các nước bị kiện như Trung Quốc , Thái Lan, Ấn Độ. Và tựu chung
hầu hết các vụ kiện bán phá giá Việt Nam đều thua (23/28 vụ) . Phải chăng có mặt
hàng nào mà Việt Nam bị kiện thì việc chúng ta bị thua là điều không tránh khỏi ?
4.1.2. Diễn biến vụ việc tôm Việt Nam bị Hoa Kỳ kiện chống bán phá giá.
Vào năm 2005 tôm Việt Nam khi xuất sang Hoa Kỳ chính thức bị bộ thương
mại Hoa Kỳ (DOC) cáo buộc bán phá giá và áp thuế chống bán phá giá theo quyết
định cuối cùng của Bộ Thương Mại là : Seaprodex Minh Hải (Bạc Liêu ) 4,3% ,
Minh Phú (Cà Mau ) 5.24 %, Kim Anh (Sóc Trăng ) 25,76 % ; Các doanh nghiệp là
bị đơn tự nguyện 4,57% và toàn bộ doanh nghiệp khác là 25,67% . Chi phí để xem
xét lại đối với các mức thuế với 1 công ty là 75000USD . Sau khi được lựa chọn các
công ty có 30 ngày để quyết định có đồng ý tham gia quá trình xem xét lại hoặc rút
lui .
Tin từ mạng seafood.com cho biết tại Ấn Độ có ít nhất 25 công ty xuất khẩu
tôm lớn được dự đoán sẽ nộp đơn tham gia quá trình xem xét lại thuế chống bán phá
giá năm nay, trong đó có công ty Seafood (bị áp thuế 4,9% và HLL(15,36).
Theo quy trình, Bộ Thương Mại Mỹ được lựa chọn 3 công ty bất kỳ trong tổng
những công ty nộp đơn và tiến hành xem xét lại mức giá xuất khẩu của họ trong vòng
1 năm so với đánh giá ban đầu . Kết thúc quá trình DOC sẽ xác định mức thuế mới
cho những công ty này, và tính toán mức thuế trung bình để áp dụng cho tất cả các
công ty khác .
Theo các luật sư đã quen với quá trình xem xét lại thuế chống bán phá giá, trong
hầu hết các trường hợp mức thuế chung đều được hạ bớt “ Việc các công ty nộp đơn
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
xin xem xét lại mức thuế cũng có thể ngăn cho DOC ra lệnh cho hải quan Mỹ tiến
hành thu lại các khoản thuế phải nộp của các lô hàng nhập khẩu trong năm trước, vì
khoản tiền này có thể thay đổi.’’ Tuy nhiên DOC cũng có thể từ chối tiến hành xem
xét lại nếu khối lượng công việc quá lớn và DOC không có đủ nhân lực .Vụ kiện tôm
là một trong những vụ kiện chống bán phá giá lớn và phức tạp nhất từ trước đến nay,
và DOC luôn gặp phải những vấn đề về nhân lực để xử lý hết các đơn xin xem xét lại
mức thuế của các công ty .
Ngày 3/4/2006 Bộ Thương Mại Mỹ DOC ra thông báo bắt đầu triển khai quá
trình xem xét lại mức thuế đối với tôm nhập khẩu từ 6 nước gồm Thái Lan, Ấn Độ,
Trung Quốc, Braxin, Ecuador và Việt Nam. DOC cũng cho biết đã nhận được đơn
yêu cầu xem xét lại mức thuế áp lên tôm nước ấm , tôm đông lạnh nhập khẩu từ công
ty chế biến thủy sản các nước. Trong số này , số lượng các công ty Ấn Độ nộp đơn
xin xem xét lại mức thuế yêu cầu của bên nguyên đông nhất lên đến 348 công ty, tiếp
sau là Trung Quốc với 163 doanh nghiệp , Ecuador 72 doanh nghiệp , Thái Lan 145
doanh nghiệp và Braxin 54 doanh nghiệp .
Theo danh sách bên nguyên đưa ra , có tới 84 công ty của Việt Nam nằm trong
diện bị xem xét lại mức thuế . Song thực tế tổng số doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu vào thị trường Mỹ chỉ trên dưới 50 doanh nghiệp . Phó tổng thư ký hiệp hội chế
biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam(VASEP) Trương Đình Hòa cho biết danh sách
mà CFA đưa ra lấy từ Hải Quan Mỹ, có rất nhiều tên trùng, hoặc có cả tên các doanh
nghiệp , cá nhân không xuất khẩu tôm qua Mỹ .
Một động thái khác cũng liên quan và tác động mạnh mẽ đến diễn biến vụ kiện ,
đó là Bộ Thương Mại Thái Lan đã chính thức gửi đơn kiện nên tổ chức thưong mại
thế giới WTO lý do , Vụ việc này thực hiện chính sách thương mại bất bình đẳng đối
với tôm xuất khẩu của Thái Lan . Theo thông lệ WTO sẽ ra phán quyết cuối cùng sau
12-14 tháng . Tuy nhiên nếu Mỹ chấp nhận huỷ bỏ bond ( Ký quỹ - đặt cọc 100% giá
trị hàng hoá ) trong vòng 60 ngày kể từ ngày Thái Lan gửi đơn thì vụ kiện sẽ được
huỷ bỏ. Trước đó, hiệp hội thuỷ sản Hoa Kỳ NFI và hiệp hội xuất khẩu thuỷ sản Ấn
Độ cũng nộp đơn kiện tính bất hợp pháp của quy định này lên WTO .
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Nhận xét về vụ việc này, ông Trương Đình Hoà nói : đây là diễn biến tích cực
đối với vụ kiện, nhất là trong thời điểm giao dịch , nhập khẩu tôm hiện nay đang
chậm lại do các nhà nhập khẩu lo ngại rủi ro khi xem xét lại mức thuế .
Đối với một bạn hàng lớn như Hoa Kỳ thì vụ kiện trên ảnh hưởng không nhỏ
đến tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam. Ghi nhận từ các doanh nghiệp bị áp thuế :
với mức thuế xuất như vậy việc cạnh trạnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi ưu thế duy
nhất của tôm Việt Nam lâu nay đó là giá đã không còn tác dụng . Như thế sẽ đẫn đến
việc thị trường Hoa Kỳ gần như bị khép lại đối với tôm Việt Nam nếu không có kết
quả tích cực từ tranh chấp thương mại .
4.1.3. Nguyên nhân Việt Nam bị cho là có bán phá giá
Theo căn cứ bên phía Hoa Kỳ tôm Việt Nam bán phá giá đó là : giá xuất khẩu
< giá trị thông thường . Vậy tại sao họ lại cho là như vậy , còn phía các doanh nghiệp
Việt Nam lại không cho là như vậy. Nguyên nhân chính là phía Hoa kỳ đặt các điều
kiện khác nhau để tính giá tôm Việt Nam có thể kể ra đó là : Việt Nam chưa tính tới
một số chi phí như :
- Môi trường
- Chi phí xã hội
- Giá lao động
Lấy nước thứ 3 không cơ bản để so sánh. Sự việc đó có hay không ? Xin trả lời
là có :
Thứ nhất : Theo ghi nhận của trang vneconomy.com.vn Tại tỉnh An Giang nơi
xuất khẩu tôm lớn nhất cả nước thì tình hình ô nhiễm nguồn nước là cô cùng nghiêm
trọng. Tại nhà máy công ty Nam Việt chuyên chế biến tôm xuất khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ. Nhiều người dân sống quanh đấy cho biết, ống dẫn nước thải của nhà máy
chảy thẳng ra sông có màu đen đậm đặc không chịu được. Màu đen này hoà vào sông
Hậu và loang ra cả 1 vùng rộng lớn.
Được biết, mỗi ngày các nhà máy của Việt Nam thải vào môi trường hơn 3000
m
3
, nhưng chỉ xử lý 400m
3
. Lượng nước thải sẽ cao hơn khi nhà máy tăng công suất.
Tôm chết công nhân nhà máy vô tư ném xuống sông. Người dân ở đây sống trong
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét