Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
hàng hóa và kênh phân phối là những vấn đề hàng đầu với khách hàng. Do đó,
nhiệm vụ của người sản xuất là phải hoàn thiện quá trình sản xuất và tạo kênh
phân phối phù hợp để giá cả hàng hóa là thấp nhất và dễ tiếp cận nhất đối với
người tiêu dùng. Quan điểm này dễ mắc sai lầm nếu nhà sản xuất chỉ chạy đua
giảm giá thành sản phẩm thay vì để ý đến chất lượng hàng hóa và sự hài lòng
của khách hàng.
Hay quan điểm về hoàn thiện hàng hóa: “Người tiêu dùng ưa dùng sản
phẩm, hàng hóa có chất lượng cao nhất, tính năng sử dụng tốt nhất”. Quan
điểm này lại đề cao chất lượng hàng hóa hơn là giá cả, và do vậy, các nhà sản
xuất phải tập trung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng của hàng hóa. Mặc
dù việc nâng cao chất lượng hàng hóa là rất cần thiết, nhưng nếu giá cả quá
cao cũng không thể thu hút được số lượng lớn khác hàng, ngoài ra còn ảnh
hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của nhà sản xuất
Quan điểm về tăng cường các nỗ lực thương mại lại cho rằng : người tiêu
dùng sẽ không mua hàng hóa với số lượng lớn nếu doanh nghiệp không có nỗ
lực đáng kể trong tiêu thụ và khuyến mãi. Như vậy, việc quản trị Marketing
theo hướng này sẽ tập trung vào các phương pháp kích cầu như: khuyến mãi,
quảng cáo…Để thu hút khách hàng thì những biện pháp trên là không thể
thiếu, tuy nhiên, để duy trì và phát triển việc kinh doanh thì các doanh nghiệp
không thể chỉ dựa vào các biện pháp trên vì nếu hàng hóa không đáp ứng được
đúng mong muốn của khách hàng thì nó rất dễ bị lãng quên trên thị trường.
Theo quan điểm Marketing hiện đại thì : “ Điều kiện để đạt được mục tiêu
của doanh nghiệp là xác định được nhu cầu và mong muốn của thị trường mục
tiêu và đảm bảo mức độ thỏa mãn mong muốn bằng những phương thức có
hiệu quả mạnh mẽ hơn so với đối thủ cạnh tranh”. Quan điểm này đã mang
tính bao quát hơn nhiều so với 3 quan điểm trên ở chỗ: nó chỉ ra một cách bản
chất mục tiêu và phương thức để mỗi doanh nghiệp có thể kinh doanh thành
công. Doanh nghiệp chị nên sản xuất và cung cấp những gì mà thị trường cần,
Nguyễn Thùy Linh 5 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
xác định mục tiêu thỏa mãn là mong muốn của khác hàng chứ không phải là
mục tiêu về chi phí hay giá thành sản phẩm theo chủ quan từ phía doanh
nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc đến các đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm thứ năm, cũng là quan điểm về quản trị Marketing tân tiến nhất
hiện nay do Philip Kotler phát triển : Quan điểm Marketing đạo đức xã hội.
Quan điểm này cho rằng : “ Nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định nhu cầu,
mong muốn, lợi ích của các thị trường muc tiêu và thỏa mãn chúng bằng
những phương thức có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời giữ
nguyên hay củng cố mức sung túc cho người tiêu dùng và cho toàn xã hội.”
Mặc dù vẫn giống quan điểm Marketing hiện đại ở việc phản ánh bản chất và
mục đích của hoạt động Marketing một cách cụ thể, trong tương quan với các
đối thủ cạnh tranh. Nhưng điểm đặc biệt của quan điểm Marketing đạo đức xã
hội là ở chỗ nó đã đề cao tầm quan trọng của lợi ích xã hội trong mục tiêu của
hoạt động Marketing. Qua đó, ta có thể thấy rằng, nếu không quan tâm đến
mục tiêu lâu dài là lợi ích xã hội thì thành công của doanh nghiệp không thể
duy trì mãi mãi được.
Trên cơ sở những nghiên cứu về các quan điểm Marketing hiện đại, ta sẽ phân
tích được ảnh hưởng của những quan điểm này lên hoạt động Marketing của
các ngân hàng hiện nay
1.2 Marketing Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm Marketing
Quan điểm của viện Marketing Anh: “Marketing là quá trình tổ chức và
quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của
người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản xuất và
đưa hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu
được lợi nhuận dự kiến”.
The I. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu Marketing của Liên Hợp Quốc
thì: “ Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ
Nguyễn Thùy Linh 6 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị
trường hay nói cách khác đi là lấy thị trường làm định hướng.”
Trong tất cả các quan điểm đó, quan điểm Marketing của Philip Kotler được
đánh giá là tương đối đầy đủ và chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, theo ông:
“Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu
cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”
1.2.2Marketing ngân hàng
1.2.2.1 Khái niệm
Trên thế giới hiện nay,có rất nhiều những quan điểm khác nhau về Marketing
ngân hàng.Tuy nhiên, về cơ bản, các khái niệm về Marketing trong
trong ngân hàng được phân chia theo hai loại chính:
+ Loại 1 định nghĩa Marketing trên cơ sở bản chất và mục đích của nó
Xuất phát từ khái niệm được coi là tổng quát nhất về bản chất Marketing của
Philip Kotler : “ Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa
mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”, Marketing
ngân hàng có thể được định nghĩa là:
“Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn
nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận”
Hoặc : “Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận”
+ Loại 2 định nghĩa Marketing ngân hàng trên cơ sở coi Marketing là
một quá trình tổng hợp nhiều hoạt động với các phương thức khác nhau, với
các mục tiêu cụ thể.
“ Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một ngân
hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm khách hàng đã chọn và thỏa
mãn nhu cầu của họ bằng hện thống các chính sách nhằm đạt mục tiêu lợi
nhuận như dự kiến”
Nguyễn Thùy Linh 7 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
“Marketing Ngân hàng dùng để chỉ hệ thống các chiến lược, biện pháp
chương trình hoạt động tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức cung ứng dịch
vụ ngân hàng, nhằm sử dụng các nguồn lực ngân hàng một cách tốt nhất trong
việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu”
Cho dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Marketing ngân hàng, nhưng
về cơ bản đều bao gồm những ý chính sau đây :
+ Marketing ngân hàng được xây dựng dựa trên quan điểm về Marketing
hiện đại, do đó:
+ Marketing ngân hàng có mục tiêu quan trọng nhất là xác định được
nhu cầu, mong muốn của khách hàng và tìm cách đáp ứng nó một cách hiệu
quả hơn các đối thủ cạnh tranh.
+ Lợi nhuận dù không phải là mục tiêu quan trọng nhất và duy nhất
nhưng đó là mục tiêu cuối cùng và là thước đo trình độ Marketing của mỗi
ngân hàng.
1.2.2.2 Đặc điểm của Marketing ngân hàng
Marketing ngân hàng là một loại Marketing chuyên ngành mang những
đặc trưng riêng biệt do tính chất khác biệt của loại hình kinh doanh ngân hàng
với các doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh doanh khác. Cụ thể:
1.2.2.2.1 Marketing ngân hàng là Marketing dịch vụ tài chính
Theo Philip Kotler “ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có
thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến
sự chiếm đoạt một cái gì đó, việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể
không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. Khi khách hàng đến
gửi tiền hoặc vay tiền từ ngân hàng đó họ đang sử dụng một dịch vụ.
Dịch vụ vốn có những đặc điểm khác biệt nên việc nghiên cứu về những
đặc điểm đó có vai trò liên quan chặt chẽ tới việc nghiên cứu về Marketing
ngân hàng. Bốn đặc trưng lớn của dịch vụ mà Philip Kotler nêu ra là : Tính vô
hình, tính không thể tách rời nguồn gốc, tính không ổn định về chất lượng và
Nguyễn Thùy Linh 8 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
tính không lưu trữ được. Bốn đặc trưng này thể hiện hết sức rõ nét ở dịch vụ
ngân hàng:
• Thứ nhất là tính vô hình: Trước khi một khách hàng chính thức lập
hồ sơ vay vốn tại một ngân hàng và được ngân hàng đồng ý cho vay- sau quá
trình thẩm định, anh ta không thể biết một cách chính xác ngân hàng sẽ cho
mình vay bao nhiêu, lãi suất thế nào, thời hạn giải ngân ra sao, trong quá trình
vay có phát sinh thêm vấn đề gì nữa không…Như vậy, khách hàng không thể
nắm giữ , nhìn thấy, ngửi mùi vị hay nghe thấý một dịch vụ của ngân hàng
trong suốt quá trình trước khi được sử dụng chính thức dịch vụ đó. Từ đó mà
dẫn đến việc khách hàng sẽ khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ,
kiểm chứng, so sánh một cách toàn diện dịch vụ giữa các ngân hàng với nhau
trước quá trình tham gia vào việc mua bán. Để giảm bớt tính vô hình của một
dịch vụ, các doanh nghiệp có thể làm tăng tính hữu hình của nó theo nhiều
cách như giới thiệu về một người nổi tiếng, có uy tín trong xã hội tham gia
tuyên truyền về dịch vụ của mình, mô tả các bước tiến hành dịch vụ một cách
tỉ mỉ thông qua các phương tiện thông tin…nhưng đối với riêng dịch vụ ngân
hàng, việc quan trọng nhất để tăng tính hữu hình của nó là việc nhấn mạnh vào
lợi ích của việc sử dụng dịch vụ này cho tất cả các khách hàng. Ví dụ như: với
hoạt động huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân, ngân hàng công bố rõ ràng
các mức lãi suất cho từng kỳ hạn, các hình thức khuyến mãi cho khách hàng.
• Thứ hai là tính không thể tách rời: dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân
hàng nói riêng không thể tách rời nguồn gốc của nó. Quá trình cung ứng dịch
vụ của ngân hàng thường là các quy trình, gắn liền với việc tiêu thụ của khách
hàng. Ví dụ, khi khách hàng muốn thực hiện chuyển tiền từ tài khoản của mình
đến tài khoản của tài khoản của khách hàng khác thì họ không thể tự làm điều
đó một mình, mà phải đến ngân hàng, thực hiện các thủ tục cần thiết thì ngân
hàng mới cung cấp dịch vụ này. Các ngân hàng đã tăng tính linh hoạt cho dịch
vụ của mình dựa trên cơ sở những tiến bộ về khoa học công nghệ, giúp cho
Nguyễn Thùy Linh 9 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
khách hàng tiếp cận với dịch vụ đơn giản và hiệu quả hơn như : phát triển dịch
vụ Internet Banking, Home banking cho khách hàng có thể sử dụng dịch vụ từ
nhiều nơi khác nhau mà không cần trực tiếp đến ngân hàng, hoặc có cán bộ
ngân hàng.
• Thứ ba, tính không ổn định về mặt chất lượng: do tính chất không
tách rời của dịch vụ nên chất lượng của dịch vụ ngân hàng bị phụ thuộc rất lớn
vào trình độ, kinh nghiệm của cán bộ ngân hàng, mối quan hệ giữa khách hàng
và ngân hàng, thậm chí thời điểm và hoàn cảnh diễn ra giao dịch. Do vậy, các
ngân hàng thường rất quan tâm đến việc đào tào các nhân viên của mình trong
việc phục vụ khách hàng cũng như hoàn thiện những quy trình dịch vụ, làm
sao để giản tiện và phù hợp nhất với từng khách hàng.
• Thứ tư, tính không thể lưu trữ: Do tính chất không thể tách rời của
dịch vụ nên không thể lưu trữ được chúng. Trong trường hợp cầu không thay
đổi thì tính chất này không thực sự gây khó khăn cho các ngân hàng, nhưng
trong trường hợp khi cầu tăng đột biến, vượt quá khả năng đáp ứng hiện có của
ngân hàng thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Ví dụ, trong đợt tăng lãi suất vào
cuối tháng 2/2008, việc các khách hàng đổ xô đi rút- gửi tiền giữa các ngân
hàng khiến các nhân viên ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc phục vụ
khách hàng. Khi ngân hàng không thể huy động đủ vốn thì cũng phải từ chối
các khách hàng đến vay vốn hoặc thậm chí là ngừng giải ngân các khoản vay
đã được ký kết trong hợp đồng từ trước, điều này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến uy
tín của ngân hàng.
1.2.2.2.2 Marketing hướng nội
Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ hết sức đặc biệt do đặc tính
đa dạng và phức tạp của nó. Việc cung ứng dịch vụ phải được những nhân viên
có trình độ năng lực cao đảm nhiệm .Họ giữ vai trò then chốt trong vấn đề về
số lượng, kết cấu, chất lượng dịch vụ cung ứng cũng như trong việc duy trì
mối quan hệ với khách hàng hoặc cũng có thể nói họ là biểu tượng của văn hóa
Nguyễn Thùy Linh 10 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
kinh doanh ngân hàng. Do tầm quan trọng của nguồn nhân lực nên Marketing
ngân hàng cũng mang tính hướng nội: thể hiện ở việc các cán bộ ngân hàng
được đào tạo về Marketing như kiến thức kinh doanh tối thiểu, các ngân hàng
đều phát triển Marketing trong nội bộ thông qua việc sắp xếp, tổ chức nhân
lực hợp lý hơn, đi kèm với việc đưa ra những chính sách về lương, thưởng, đãi
ngộ…giúp khuyến khích nhân viên tích cực làm việc.
1.2.2.2.3 Marketing ngân hàng thuộc loại hình Marketing quan hệ
Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, sự trung
thành của khách hàng với một nhãn hiệu ngân hàng nào đó đang giảm dần.
Khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn với rất nhiều các dịch vụ và các nhà
cung ứng dịch vụ khách nhau. Tính hấp dẫn khách hàng của loại hình dịch vụ
ày là hạn chế do các sản phẩm ngân hàng là tương tự nhau và việc đăng ký bản
quyền với 1 sản phẩm nào đó là rất khó khăn. Vì vậy nên để phát triển hoạt
động kinh doanh ngân hàng bắt buộc phải tích cực củng cố các mối quan hệ
với các khách hàng cũ và phát triển thêm các mối quan hệ với khách hàng mới.
Nói cách khác, uy tín của ngân hàng phụ thuộc vào độ tin tưởng, tính bền lâu
của các mối quan hệ mà họ xây dựng được. Do đó, Marketing ngân hàng thuộc
loại Marketing quan hệ, trong đó bộ phận Marketing phải xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp, cùng có lợi giữa khách hàng và ngân hàng bằng việc luôn thực hiện
tốt những cam kết cung cấp cho nhau những dịch vụ chất lượng cao với giá cả
hợp lý.
Để phát triển tốt các mối quan hệ, bộ phận Marketing ngân hàng phải tiến
hành phân loại các mối quan hệ theo mức độ quan trọng khách nhau, tùy vào
từng mối quan hệ, dành cho các cán bộ có năng lực phụ trách, theo dõi và có
biện pháp để duy trì và phát triển cho phù hợp. Ngoài ra, ngân hàng cũng phải
có kế hoạch để phát triển các mối quan hệ mới, dài hạn phù hợp với mục tiêu
của mình
1.2.3 Nội dung của Marketing ngân hàng
Nguyễn Thùy Linh 11 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
1.2.3.1 Tổ chức nghiên cứu môi trường kinh doanh ngân hàng
1.2.3.1.1 Nội dung nghiên cứu môi trường kinh doanh của ngân
hàng
Nghiên cứu môi trường kinh doanh là công việc không thể thiếu với bất kỳ
ngân hàng nào. Thông qua nghiên cứu môi trường kinh doanh, ngân hàng mới
có thể hiểu rõ được về môi trường xung quanh (về luật pháp, công nghệ, các
đối thủ cạnh tranh…) cũng như về tâm lý của khách hàng, qua đó giúp cho bộ
phận Marketing có thể đưa ra được những chiến lược, biện pháp phù hợp cho
từng thời kỳ, thời điểm của ngân hàng.
a>Nghiên cứ môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm những tác nhân lớn nằm ngoài khả năng kiểm
soát của ngân hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động
của hệ thống Marketing.
Môi trường vĩ mô bào gồm:
• Môi trường địa lý (tự nhiên)
• Môi trường dân số
• Môi trường kinh tế
• Môi trường văn hóa xã hội
• Môi trường chính trị- pháp luật
• Môi trường kĩ thuật công nghệ
Những thay đổi trong môi trường vĩ mô tạo ra những cơ hội và thách thức cho
hoạt động của ngân hàng. Vì thế, mỗi ngân hàng cần thu thập đầy đủ, chính
xác kịp thời thông tin về môi trường và phân tích dự báo được sự biến động
của chúng, giúp chủ ngân hàng có điều chỉnh kịp thời về hành động.
b>Nghiên cứu môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm những yếu tố trong phạm vi gần và thậm chí là
trong nội bộ ngân hàng, trực tiếp gây ảnh hưởng đến quá trình cung ứng dịch
vụ của ngân hàng cũng như hiệu quả hoạt động của họ
Nguyễn Thùy Linh 12 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố sau:
• Các yếu tố nội lực của ngân hàng như: vốn tự có, trình độ cán bộ quản lý và
đội ngũ nhân viên, trình độ công nghệ, hệ thống phân phối, uy tín và thâm niên
quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
• Các đơn vị hỗ trợ : Công ty tư vấn, quảng cáo, tin họ…
• Đối thủ cạnh tranh
• Khách hàng của ngân hàng
1.2.3.2 Hệ thống thông tin nghiên cứu môi trường kinh doanh
Bộ phận Marketing cần hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời để đưa ra các
quyết định hoặc kiến nghị cần thiết. Do vậy, để đảm bảo cho sự thành công
của hoạt động Marketing, các ngân hàng thường lập ra một bộ phận chuyên
thu thập những số liệu cho việc đưa ra các quyết định Marketing. Hệ thống
thông tin môi trường kinh doanh Marketing bao gồm:
a> Hệ thống thông tin nội bộ như: các báo cáo thống kê, kế toán tài chính,
nghiệp vụ, báo cáo của các giám đốc ngân hàng tại các chi nhánh ở vùng, khu
vực trong hệ thống, các báo cáo thanh tra ngân hàng, các số liệu điều tra thông
qua bảng hỏi với khách hàng…
b> Hệ thống thông tin bên ngoài: thông tin các phương tiện thông tin đại chúng
(đặc biệt là từ các ấn phẩm chuyên ngành), các tài liệu phân tích đánh giá của
tổ chức kinh tế lớn, các báo cáo thường niên của các ngân hàng khác
c> Hệ thống nghiên cứu Marketing: Sau khi thu thập được những số liệu
Marketing phù hợp, ngân hàng cần có một bộ phận tổng hợp và phân tích
những số liệu đó để đưa ra những quyết định hợp lý. Cụ thể, những nhiệm vụ
đó là:
• Phát hiện vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu
• Lựa chọn nguồn thông tin
• Thu thập thông tin
Nguyễn Thùy Linh 13 Lớp Ngân hàng 46A
Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank
• Phân tích thông tin
• Tổng hợp kết quả nghiên cứu
1.2.4 Các công cụ Marketing ứng dụng cho phân tích dịch vụ cho vay
tiêu dùng
1.2.4.1 Phân tích môi trường xung quanh
Để đề ra được những chiến lược Marketing phù hợp cho đoạn thị trường đã
chọn thì việc phân tích liên tục và xuyên suốt môi trường xung quanh ngân
hàng là điều vô cùng quan trọng. Việc phân tích này được cụ thể hóa qua mô
hình : Phân tích môi trường vĩ mô ( Mô hình phân tích PEST)
Mô hình phân tích PEST (Political Factors, Economic Factors, Social
Factors, Technological Factors – những yếu tố mang tính chính trị, kinh tế, xã
hội, công nghệ) giúp ngân hàng có được cái nhìn tổng quan về thị trường và
qua đó đánh giá được tác động của những yếu tố này lên cầu về dịch vụ của
khách hàng trên thị trường.
Các yếu tố mang tính chính trị (bộ máy quản lý Nhà nước, hệ thống luật
pháp…) có tầm ảnh hưởng bao trùm lên cả ngành ngân hàng trên một lãnh thổ.
Khi kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng tại một quốc gia nào thì phải tuân thủ
theo luật pháp của quốc gia đó. Tính ổn định của nền chính trị, các đạo luật về
thuế, đầu tư, luật doanh nghiệp, quy định trong ngành ngân hàng, luật cạnh
tranh…ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chung của ngân hàng và định hướng
chiến lược Marketing
Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế kể cả trong ngắn hạn hay dài hạn đề
có ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng. Chúng bao gồm :
Tình trạng hiện tai của nền kinh tế (do nền kinh tế phát triển mang tính
chu kỳ nên ngân hàng rất cần hoạch định chiến lược Marketing phù hợp với
từng giai đoạn) như lạm phát, mức tăng trưởng GDP, mức độ phát triển của thị
trường tài chính …
Nguyễn Thùy Linh 14 Lớp Ngân hàng 46A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét