Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
3.1.1. Đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu
Về mặt cầu: đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
cầu của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng Thế
giới, đầu t thờng chiếm khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu
của tất cả các nớc trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của
đầu t là ngắn hạn. Với tổng cung cha kịp thay đổi, sự tăng lên của
đầu t làm cho tổng cầu tăng, kéo theo mức sản lợng cân bằng
tăng và giá cả của các đầu vào của đầu t tăng.
Về mặt cung: khi thành quả cảu đầu t phát huy tác dụng, các
năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng
cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lợng tiềm năng tăng và do đó
giá cả giảm. Sản lợng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.
Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn
nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ,
phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao động, nâng
cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
3.1.2. Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu
và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng
hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá
vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu t, cầu của các yếu tố của đầu t tăng lên làm cho
giá của hàng hoá có liên quan tăng đến mức một mức độ nào đó dẫn đến tình
trạng lạm phát. Đến lợt mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống
của ngời lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lơng ngày càng thấp hơn, thâm
hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu t làm cho cầu
của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu
hút thêm nhiều lao động, giản tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của
ngời lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho
sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu t cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhng theo chiều hớng
ngợc lại so với các tác động trên đây. Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh
tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đa ra
các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực,
duy trì đợc sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
3.1.3. Đầu t tác động đến tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng
trởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15 - 25% so với GDP
tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nớc.
GDP tăng Mức
tư ầuĐ Vốn
=
ICOR
Từ đó suy ra:
ICOR
tư ầuĐ Vốn
GDP tăng Mức
=
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
t.
ở các nớc phát triển, ICOR thờng lớn, từ 5 - 7 do thừa vốn, thiếu lao
động, vốn đợc sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ
hiện đại có giá trị cao. Còn ở các nớc chậm phát triển, ICOR thấp từ 2 - 3 do
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
thiếu vốn, thừa lao động nên có thể cần phải sử dụng lao động để thay thế
cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
3.1.4. Đầu t và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu có thể
tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 - 10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo
ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành
nông, lâm, ng nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học,
để đạt đợc tốc độ tăng trởng từ 5 - 6% là rất khó khăn. Nh vây, chính sách
đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm
đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi
tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
thế, kinh tế, chính trị, của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn,
làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
3.1.5. Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của
đất nớc
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, Đầu t là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của
Việt nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, nếu
chia quá trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt nam năm
1990 ở vào giai đoạn 1 và 2. Việt nam đang là một trong 90 nớc kém nhất về
công nghệ. Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá của Việt nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc
một chiến lợc đầu t phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là tự
nghiên cứu hay nhập từ nớc ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu t.
Mọi phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những
phơng án không khả thi.
3.2. Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ
cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp
đặt thiếu bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và
thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của
các cơ sở vật chất - kỹ thuật vừa tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt
động đầu t đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ đang tồn tại: sau
một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở này hao
mòn, h hỏng. Để duy trì đợc sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến hành
sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất - kỹ thuật đã h hỏng, hao mòn
này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển
khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua
sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng
có nghĩa là phải đầu t.
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động không để thu lợi nhuận cho bản
thân mình) đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn
định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thờng
xuyên. Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu t.
4. Đầu t xây dựng cơ bản
4.1. Khái niệm
Đầu t xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của
đầu t phát triển. Đây là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng
cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố
định trong nền kinh tế. Do vậy đầu t xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế nói chung và của các
cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu t xây dựng là hoạt động chủ yếu tạo
ra tài sản cố định đa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu đ-
ợc lợi ích dới nhiều hình thức khác nhau. Đầu t xây dựng cơ bản trong nền
kinh tế quốc dân đợc thông qua nhiều hình thức nh xây dựng mới, cải tạo, mở
rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
4.2. Vai trò của đầu t xây dựng cơ bản
Để đảm bảo cho nền kinh tế xã hội không ngừng phát triển, điều kiện tr-
ớc tiên và cần thiết là phải đầu t xây dựng cơ bản. Trong một nền kinh tế xã
hội, đối với bất kỳ một phơng thức sản phẩm nào cũng đều phải có cơ sở vật
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
chất, kỹ thuật tơng ứng. Việc đảm bảo tính tơng ứng đó là nhiệm vụ của hoạt
động đầu t xây dựng cơ bản.
Đầu t xây dựng cơ bản là điều kiện cần thiết để phát triển tất cả các
ngành kinh tế quốc dân và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng. Những năm qua,
ở nớc ta do tăng cờng đầu t xây dựng cơ bản mà cơ cấu kinh tế đã có những
biến đổi quan trọng. Cũng với việc phát triển các ngành kinh tế mới đã bắt
đầu xuất hiện nh bu điện, hàng không Nhiều khu công nghiệp, nhiều vùng
kinh tế mới đã và đang đợc hình thành.
Mặt khác, đầu t xây dựng cơ bản là tiền đề cho việc xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất dịch vụ, từ đó nâng cao năng lực sản
xuất cho từng nhành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện phát triển
sản xuất xã hội, tăng nhanh giá trị sản xuất và giá trị tổng sản phẩm trong n-
ớc, tăng tích luỹ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, xã hội
II. Doanh nghiệp - doanh nghiệp ngành xây dựng
1. Khái niệm chung về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế đợc thành lập để thực hiện các hoạt
động kinh doanh, thực hiện chức năng sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ
nhằm đáp ứng các nhu cầu của con ngời, xã hội, và kiếm lợi nhuận thông qua
các hoạt động hữu ích đó.
Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày
12/6/1999, "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch
ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh". Theo khái niệm này, trừ loại hình kinh
doanh cá thể, các tổ chức kinh tế đảm bảo các điều kiện về tài sản, tên riêng,
trụ sở giao dịch và có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đều đợc gọi là
doanh nghiệp.
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp, nhng cách phân loại thờng đợc
sử dụng nhiều nhất và có vai trò quan trọng nhất trong việc nghiên cứu hoạt
động của doanh nghiệp là phân loại theo hình thức sở hữu. Theo đó, doanh
nghiệp đợc phân thành các nhóm sau:
Doanh nghiệp nhà nớc.
Doanh nghiệp t nhân.
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
Hợp tác xã.
Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
2. Doanh nghiệp ngành xây dựng
Những năm trớc đây, trong thời kỳ bao cấp với nền kinh tế tập trung
mệnh lệnh, dịch vụ xây dựng do các doanh nghiệp của Nhà nớc độc quyền
cung ứng theo kế hoạch. Đến nay, mặc dù các doanh nghiệp thuộc sở hữu
Nhà nớc vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ xây dựng,
nhng cũng có khá nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t nhân đợc thành
lập. Đặc biệt là có sự tham gia của các nhà cung ứng dịch vụ nớc ngoài.
2.1. Vai trò của doanh nghiệp ngành xây dựng
Các doanh nghiệp ngành xây dựng có nhiệm vụ tái sản xuất các
tài sản cố định cho mọi lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất của đất
nớc. Có thể nói không một ngành sản xuất nào, không một hoạt
động văn hoá - xã hội nào là không sử dụng sản phẩm của ngành
xây dựng.
Các công trình xây dựng của các doanh nghiệp có vai trò tăng
năng lực sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình, đồng
thời tạo sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc và tạo thêm chỗ
làm cho ngời lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho họ.
Các doanh nghiệp ngành xây dựng phải sử dụng một lợng vốn
lớn, do đó một sai lầm trong xây dựng có thể dẫn đến lãng phí
lớn lao rất khó sửa chữa trong nhiều năm.
Hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây dựng đóng góp đáng
kể vào giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
2.2. Đặc điểm và nội dung hoạt động của doanh nghiệp ngành xây
dựng
Tình hình và điều kiện sản xuất trong các doanh nghiệp ngành
xây dựng luôn thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây
dựng và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này đòi hỏi các doanh
nghiệp xây dựng phải chú ý tăng cờng tính cơ động, linh hoạt,
gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn các
hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, phấn đấu giảm chi phí có
liên quan đến vận chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích hợp, lợi
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
dụng tối đa lực lợng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để có thể
trúng thầu xây dựng.
Thời gian xây dựng các công trình thờng dài. Đặc điểm này làm
cho vốn đầu t xây dựng công trình và vốn sản xuất của doanh
nghiệp xây dựng thờng bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây
dựng, các doanh nghiệp xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu
nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô
hình.
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có những thời điểm đòi
hỏi một số đơn vị tham gia xây dựng công trình cùng đến hiện tr-
ơng thi công để thực hiện phần việc của mình, trong khi diện tích
của công trình lại có hạn. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp xây
dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất.
Công việc xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hởng
của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc. Đặc điểm này đòi hỏi
doanh nghiệp xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh
thời tiết xấu.
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hởng của lợi nhuận chênh lệch do
điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại công
trình xây dựng, nhng nếu nó đợc đặt tại nơi có sẵn nguồn nguyên
vật liệu xây dựng, nguồn máy móc cho thuê và sẵn nhân công, thì
doanh nghiệp nhận thầu xây dựng ở trờng hợp này có nhiều cơ
hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu đợc lợi nhuận cao.
III. Cạnh tranh - lợi thế cạnh tranh
1. Cạnh tranh
1.1. Khái niệm
Theo Marx "Cạnh tranh t bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh
gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và mua bán hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch".
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là
một yếu tố trong cơ chế vận động của thị trờng. Sản xuất hàng hoá càng phát
triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lợng ngời cung ứng càng đông thì cạnh
tranh càng gay gắt. Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị
thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trờng, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
tại và phát triển hơn nữa. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền
kinh tế thị trờng vận động theo hớng ngày càng nâng cao năng suất lao động
xã hội. Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên
con đờng phát triển.
1.2. Các loại hình cạnh tranh
Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia thị trờng, ngời ta chia cạnh tranh làm 3
loại:
Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra
theo quy luật mua rẻ bán đắt.
Cạnh tranh giữa ngời mua với nhau: là cuộc cạnh tranh theo quy
luật cung cầu. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa ng-
ời mua trở nên quyết liệt, giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ tăng lên.
Cạnh tranh giữa ngời bán với nhau: là cuộc cạnh tranh gay go và
quyết liệt nhất. Đây là cuộc cạnh tranh quyết định sự sống còn
của doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành lợi
thế cạnh tranh. Để có thể đứng vững và phát triển, các doanh
nghiệp phải sử dụng mọi biện pháp khác nhau để tạo cho mình
một lợi thế hơn đối thủ.
Nếu căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trờng, ngời ta chia ra:
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trên thị tr-
ờng có nhiều ngời bán có u thế nh nhau. Các sản phẩm bán ra đợc
xem nh đồng nhất. Các doanh nghiệp tham gia trên thị trờng này
chủ yếu tìm biện pháp cắt giảm chi phí vào sản xuất một số lợng
sản phẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng
doanh thu cận biên.
Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trờng mà phần
lớn các sản phẩm là không đồng nhất với nhau. Ngời bán có thể
ấn định giá linh hoạt theo khu vực bán sản phẩm, tuỳ theo khách
hàng cụ thể và mức lợi nhuận mong muốn.
Cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh trên thị trờng mà ở đó có một
số ngời bán một số sản phẩm thuần nhất.
Tóm lại, cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ
thể hoạt động, nhằm giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và nơi tiêu
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển.
1.3. Vai trò của cạnh tranh
Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hởng đến uy tín của doanh
nghiệp trên thị trờng.
Đối với ngời tiêu dùng, cạnh tranh giúp họ thoả mãn nhu cầu về
hàng hoá và dịch vụ, chất lợng sản phẩm ngày càng cao cùng với
mức giá cả ngày càng phù hợp với khả năng của họ.
Đối với nền kinh tế quốc dân thì cạnh tranh là động lực thúc đẩy
sự phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện
để phát huy lực lợng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ
thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội. Đó cũng là điều kiện để
xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng trong kinh
doanh, phát huy tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo trong các
doanh nghiệp, gợi mở nhu cầu thông qua việu tạo ra nhiều sản
phẩm mới, nâng chất lợng đời sống xã hội, phát triển nền văn
minh nhân loại.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh.
Để khắc phục đợc những tiêu cực đó thì vai trò của Nhà nớc là hết sức quan
trọng.
2. Lợi thế cạnh tranh
Đạt đợc một lợi thế cạnh tranh trên thị trờng là mục đích của mọi doanh
nghiệp đặc biệt các doanh nghiệp Việt nam hiện đang trong tình trạng cạnh
tranh kém. Nhng có phải mọi lợi thế cạnh tranh đều có ý nghĩa chiến lợc hay
có thể duy trì trong thời gian dài và liệu một lợi thế cạnh tranh có đảm bảo
cho một chiến lợc kinh doanh thành công hay không? Lợi thế cạnh tranh có
phải là ở vốn, công nghệ, lao động hoặc các kỹ năng sản xuất không? Có thể
thấy rằng, nguồn lực về vốn luôn là một nhân tố tác động đến lợi thế cạnh
tranh của một doanh nghiệp. ở đây, không thể chỉ hiểu nguồn lực này là số l-
ợng vốn có đợc mà trớc hết nó phải là khả năng sử dụng vốn. Hiệu quả sử
dụng vốn sẽ làm cho nhu cầu về vốn của doanh nghiệp giảm tơng đối, do đó
sẽ cần ít vốn hơn cho những nhu cầu kinh doanh nhất định, từ đó chi phí cho
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Kinh tế Đầu t
sử dụng vốn sẽ giảm đi, tăng lợi thế cạnh tranh về chi phí. Khi đã có vốn, một
việc làm không thể thiếu của doanh nghiệp là đầu t vào trang thiết bị, máy
móc, công nghệ. Công nghệ đợc đầu t phải không quá lạc hậu và phù hợp với
quy mô cũng nh phạm vi hoạt động của doanh nghiệp thì mới có thể nâng
cao chất lợng sản phẩm, giảm chi phí và tạo lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh vốn
và công nghệ thì có một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, năng lực và một
đội ngũ công nhân lành nghề, có kỷ luật lao động cao sẽ tạo ra cho doanh
nghiệp một lợi thế cạnh tranh không chỉ trớc mắt mà còn trong dài hạn.
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp làm thế nào để nhận biết và đạt đợc lợi
thế cạnh tranh dài hạn. Doanh nghiệp cũng cần phải biết xây dựng chiến lợc
kinh doanh khi có một lợi thế cạnh tranh và biết cạnh tranh với các doanh
nghiệp khác có một lợi thế cạnh tranh dài hạn mà mình không có.
Lợi thế cạnh tranh dài hạn không phải luôn luôn dễ dàng xác định đợc.
Các hãng sản xuất bột giặt đều cố gắng xây dựng các lợi thế, nhng nó nhanh
chóng bị bắt chớc ngay sau đó. Trong thị trờng hàng điện tử có hãng đã cố
gắng lợi dụng một lợi thế hơn so với đối thủ của mình, nhng lợi thế đó lại
sớm trở nên không quan trọng với mong muốn của ngời tiêu dùng.
Nh vậy mọi nhà kinh doanh cần phải khám phá xem một lợi thế cạnh
tranh dài hạn và sự thể hiện thực sự có ý nghĩa đối với cạnh tranh và chiến l-
ợc kinh doanh là gì?
2.1. Các điều kiện cho lợi thế cạnh tranh dài hạn
Mọi doanh nghiệp cần hiểu là họ cần một lợi thế cạnh tranh trớc
những khách hàng, ngời chọn hàng hoá của họ, chứ không phải trớc các
đối thủ cạnh tranh. Một lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa chiến lợc khi nó
thoả mãn ba điều kiện sau:
Khách hàng phải nhận biết đợc sự khác biệt rõ ràng trong những
đặc điểm quan trọng giữa sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và
sản phẩm, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.
Sự khác biệt đó là kết quả trực tiếp của sự chênh lệch về khả năng
đáp ứng nhu cầu của khách hàng giữa doanh nghiệp và các đối
thủ cạnh tranh.
Sự khác biệt trong những đặc điểm quan trọng và khoảng cách về
khả năng có thể hy vọng duy trì đợc lâu dài.
Sinh viên: Phan Công Quyền Lớp: Kinh tế Đầu t 41C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét