Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển theo mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy quản lý tài chính doanh nghiệp
cần phải có những thay đổi cho phù hợp với xu thế phát triển này. Hơn nữa,
nước ta đã và sẽ hội nhập chủ động, hiệu quả vào khu vực AFTA/ASEAN,
mức độ mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ, tài chính, đầu tư sẽ đạt ngang
bằng với các nước trong khối ASEAN, từng bước tạo điều kiện về kinh tế,
pháp lý để hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới, thì vấn đề quản
lý điều hành vốn kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng.
Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong mọi quá
trình sản xuất kinh doanh và đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất đối
với sự tăng trưởng phát triển kinh tế của đất nước. Muốn cho quá trình sản
xuất kinh doanh được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các
giai đoạn khác nhau của quá trình đó. Doanh nghiệp có khả năng phát triển
và ngày càng mở rộng hay không thì trước hết phải sử dụng vốn có hiệu quả.
Điều này đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước, có
lượng vốn rất lớn, là những đơn vị đóng vai trò nòng cốt, là động lực phát
triển của nền kinh tế.
Đối với công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên là một doanh nghiệp nhà
nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Đứng trước những khó khăn,
thách thức của cơ chế thị trường, công ty luôn phải tính toán, cân nhắc kỹ
lưỡng từng trường hợp, từng thời kỳ, để đề ra những biện pháp tối ưu nhằm
giảm bớt khó khăn. Một trong những biện pháp đó là quản lý, điều hành
vốn, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh. Đây là vấn đề
có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty. Đảm bảo
cho công ty có thể đứng vững trong cạnh tranh dưới tác động ngày càng
mạnh mẽ của cơ chế thị trường.
5
Luận văn tốt nghiệp
Qua quá trình thực tập tại công ty, kết hợp với những kiến thức tiếp thu
được ở trường, em quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty xăng dầu Bắc Tây
Nguyên ”, với mong muốn có thể đưa ra một số ý kiến nhằm cải tiến công
tác quản lý, điều hành vốn của công ty, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh ở công ty xăng dầu
Bắc Tây Nguyên.
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh ở công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS .TS Trần Chí Thành cùng
các cán bộ công nhân viên phòng kinh doanh, phòng kế toán thuộc công ty
xăng dầu Bắc Tây Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài
viết này.
6
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I. KHÁI QUÁT VỀ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI:
1. Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh:
1.1. Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất
nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có
những quan niệm khác nhau về vốn.
Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho
rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình
sản suất. Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm
đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó
được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật
liệu, tiền công Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế,
Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho
rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.
P.A.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế
hiện đại, coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và
hàng hoá chỉ là kết quả của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền
được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình
sản xuất sau đó. Một số hàng hoá vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi
đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ
7
Luận văn tốt nghiệp
bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa
là yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất
gián tiếp tốn thời gian.
David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về
vốn là: Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự
trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính
là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng
nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất
cứ lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng
để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp,
chí phí mua sắm tài sản cố định, nguyên vật liệu Vốn đưa vào sản xuất
kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm,
dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau
khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng
thời phải có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (DNTM) là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng
trong hoạt động kinh doanh bao gồm:
- Tài sản hiện vật như: nhà kho, cửa hàng, hàng hoá dự trữ
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quí.
- Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác.
1.2. Phân loại vốn kinh doanh:
8
Luận văn tốt nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có thể được xem xét,
phân loại theo các tiêu thức sau:
* Theo giác độ pháp luật:
- Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo năng lực kinh
doanh đối với từng ngành nghề, từng loại hình doanh nghiệp do pháp luật
qui định. Dưới mức vốn pháp định thì không thể đủ điều kiện để thành lập
doanh nghiệp.
Theo Nghị Định 221 và 222 HĐBT ngày 23/07/1991 cụ thể hoá một số
điều qui định trong luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân qui định:
+ Vốn pháp định đối với ngành kinh doanh tư liệu sản xuất cho công ty
trách nhiệm hữu hạn là 150 triệu đồng, công ty cổ phần là 500 triệu và
doanh nghiệp tư nhân là 80 triệu đồng.
+ Vốn pháp định cho các cửa hàng dịch vụ của công ty trách nhiệm hữu
hạn là 50 triệu đồng, công ty cổ phần là 200 triệu đồng, doanh nghiệp tư
nhân là 20 triệu đồng.
- Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào
điều lệ của doanh nghiệp. Tuỳ theo ngành nghề và loại hình doanh nghiệp
nhưng vốn điều lệ không được nhỏ hơn vốn pháp định.
* Theo giác độ hình thành vốn kinh doanh:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức
là số vốn cần thiết để đăng kí kinh doanh. Đó là vốn đóng góp của các thành
viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân hoặc
vốn của nhà nước giao.
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do trích từ lợi nhuận, do ngân sách
nhà nước cấp, sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu… bổ sung
để tăng thêm vốn kinh doanh.
9
Luận văn tốt nghiệp
- Vốn liên doanh: là vốn do sự đóng góp của các bên khi tiến hành cam
kết liên doanh, liên kết với nhau trong hoạt động thương mại, dịch vụ.
- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn chủ sở hữu, vốn
liên doanh để có đủ vốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi vay của ngân hàng
trong và ngoài nước.
* Theo giác độ chu chuyển vốn kinh doanh:
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm: toàn
bộ những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị
và thời gian sử dụng qui định.
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông.
+ Tài sản lưu động là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn giá trị
và thời gian sử dụng để xếp vào tài sản cố định.
+ Bộ phận quan trọng của vốn lưu động là dự trữ hàng hoá, vốn bằng
tiền như tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quỹ các khoản phải thu ở khách
hàng
Việc phân chia các loại vốn này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh
doanh thương mại. Vì tính chất của chúng rất khác nhau và hình thức biểu
hiện cũng khác nhau nên phải có các biện pháp thích ứng để nâng cao hiệu
quả sử dụng các loại vốn này.
2. Đặc điểm của vốn kinh doanh:
2.1. Đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động dùng trong kinh doanh thương mại tham gia hoàn toàn
vào quá trình kinh doanh giá trị của nó có thể trở lại hình thái ban đầu sau
mỗi vòng chu chuyển hàng hoá. Vốn lưu động luôn luôn biến đổi hình thái
từ tiền sang hàng và từ hàng sang tiền. Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn
10
Luận văn tốt nghiệp
vốn cố định. Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền và
tài sản khác.
Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển
hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu
chuyển của vốn khác hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong doanh nghiệp
thương mại, vốn lưu động là khoản vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất khoảng 70 –
80% vốn kinh doanh trong đó, bộ phận dự trữ hàng hoá chiếm tỉ lệ cao.
Ở mỗi thời điểm nhất định, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại
thường thể hiện ở các hình thái khác nhau như: hàng hoá dự trữ, vật tư nội
bộ, tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quĩ, các khoản phải thu và các khoản
phải trả.
Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh
mà vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu
chuyển khác nhau. Ví dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản suất gia
công chế biến khác với đơn vị bán buôn, đơn vị chuyên bán hàng qua kho sẽ
khác với đơn vị chỉ bán hàng chuyển thẳng.
2.2. Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định biểu hiện dưới hình thái tài sản cố định. Theo Quyết Định
– 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ Tài Chính: Mọi tư liệu lao
động và mọi khoản chi phí thực tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp mà đồng thời thoã mãn hai điều kiện: có thời hạn sử dụng
từ 1 năm trở lên và có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên thì đều được coi là tài
sản cố định.
Tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi
chu kỳ kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nên giá trị của
nó được chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.
11
Luận văn tốt nghiệp
Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài,
chỉ tăng thêm khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định
hao mòn dần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình phụ thuộc mức độ sử dụng tài sản cố định và các
điều kiện khác có ảnh hưởng tới độ bền lâu dài của tài sản cố định như:
+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định.
+ Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định.
+ Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sữa chữa, thay thế thường xuyên, định kỳ
đối với tài sản cố định.
+ Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự
quan tâm của cấp lãnh đạo.
+ Các điều kiện tự nhiên và môi trường…
- Hao mòn vô hình chủ yếu là do tiến bộ khoa học- công nghệ mới và
năng suất lao động xã hội quyết định.
Tài sản cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn nhưng những tài sản cố
định như: nhà cửa, kho tàng, quầy hàng lại là những tài sản có giá trị cao,
là bộ mặt của doanh nghiệp, nên có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi
vay vốn.
Ngày nay, các doanh nghiệp thương mại thường đầu tư vốn cố định vào
xây dựng nhà làm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao thông để tiện liên hệ
với khách hàng và những tài sản cố định như các thiết bị văn phòng được
chú ý đầu tư nhằm thu hút và phục vụ khách hàng tốt hơn.
3. Vai trò của vốn kinh doanh:
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh
nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến
hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng
12
Luận văn tốt nghiệp
vốn nhất định nào đó. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các
nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh
doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của
doanh nghiệp. Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết
định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh
nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra
đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh
doanh, cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô
của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và
là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả
các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng
hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá. Bởi vậy
các doanh nhân thường ví “buôn tài không bằng dài vốn”.
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng
là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lược và
kế hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình
và quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận
động có hiệu quả.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị. Nó chỉ
phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ
kinh doanh. Nếu vốn không được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh
doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ
dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị
13
Luận văn tốt nghiệp
phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu
quả.
II. NỘI DUNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
1. Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại.
1.1. Thành phần và cơ cấu vốn lưu động.
Vốn lưu động là biều hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông. Vốn lưu động biểu hiện ở cả hai hình thái khác nhau là: hình thái hiện
vật và hình thái giá trị.
Tài sản lưu động của các doanh nghiệp thương mại gồm vật liệu đóng
gói, bao bì, nhiên liệu, dụng cụ và các thứ khác gọi chung là vật tư dùng cho
hoạt động mua bán. Nội dung vật chất của vốn lưu thông trong doanh nghiệp
thương mại là hàng hoá để kinh doanh, tiền nhờ ngân hàng thu và vốn bằng
tiền. Nếu như vốn lưu động cần thiết đối với doanh nghiệp sản suất để mua
vật tư cho sản suất và tiêu thụ sản phẩm, thì đối với doanh nghiệp thương
mại, vốn lưu động cần thiết để dự trữ hàng hoá phục vụ kinh doanh, để tổ
chức công tác mua bán hàng hoá.
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được chia thành vốn lưu
động định mức và vốn lưu động không định mức.
- Vốn lưu động định mức: là số vốn tối thiểu cần thiết để hoàn thành kế
hoạch lưu chuyển hàng hoá và kế hoạch sản suất dịch vụ phụ thuộc của các
doanh nghiệp trong kỳ. Vốn lưu động định mức gồm có vốn dự trữ vật tư
hàng hoá và vốn phi hàng hoá để phục vụ cho quá trình kinh doanh.
+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền dự trữ hàng hoá ở các kho, cửa hàng,
trạm, trị giá hàng hoá trên đường vận chuyển và trị giá hàng hoá thanh toán
bằng chứng từ. Nó nhằm đảm bảo lượng hàng hoá bán bình thường cho các
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng khác.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét