Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay.doc

2.1. Sơ lợc lịch sử hình thành và phát triển chính sách về
BHXH trên thế giới
BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính
xã hội từ đầu thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm đợc
hình thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi "Luật nhà máy" và tập
trung vào bảo hiểm cho ngời lao động làm việc trong các xởng thợ.
Vào năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng tại
Đức, một số các luật khác đợc hình thành, sau đó chẳng hạn luật tai
nạn lao động hình thành năm 1884; luật bảo hiểm ngời già và tàn
tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH đợc thực hiện
trên rất nhiều nớc và trở thành một bộ phận quan trọng trong hoạt
động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện
nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng
12 năm 1948 có ghi: "Tất cả mọi ngời, với t cách là thành viên của
xã hội, có quyền hởng BHXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn
các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự
do phát triển con ngời" Để thể chế hoá tinh thần đó, tổ chức lao
động quốc tế ILO (một tổ chức cơ cấu trong liên hợp quốc) đã đa ra
Công ớc 102 quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của BHXH và những
khuyến nghị các nớc thành viên về việc thực hiện các tiêu chuẩn
này.
2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách
BHXH ở Việt Nam
Nh ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai trị, bọn
thực dân Pháp hầu nh không đề ra đợc những gì để bảo vệ các
quyền cơ bản của con ngời. Không thực hiện đợc chế độ chính sách
về BHXH đối với ngời lao động Việt Nam. Ngay sau cách mạng
tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc
5
lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hu trí cho công
nhân viên chức Nhà nớc (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc
lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ
sở pháp lý tiếp theo của BHXH đợc thể hiện trong Hiến pháp năm
1959. Hiến pháp năm 1959 của nớc ta đã thừa nhận công nhân viên
chức có quyền đợc trợ cấp BHXH. Quyền này đợc cụ thể hoá trong
Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nớc,
ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ
đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày
30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những năm tháng kháng
chiến chống xâm lợc, chính sách BHXH nớc ta đã góp phần ổn định
về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân
nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức ngời
sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lợc thống
nhất đất nớc.
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị tr-
ờng. Sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tơng
ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng.
Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: "Nhà nớc thực hiện chế độ BHXH
đối với công chức Nhà nớc và ngời làm công ăn lơng, khuyến khích
phát triển các hình thức BHXH khác đối với ngời lao động". Trong
văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ,
cần đổi mới chính sách BHXH theo hớng mọi ngời lao động và các
đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng
góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên "Mở rộng chế
độ BHXH đối với ngời lao động thuộc các thành phần kinh tế". Nh
vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nớc là những cơ sở pháp lý
quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nớc ta theo cơ chế
thị trờng. Ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày
1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995
về Điều lệ BHXH đối với ngời lao động trong các thành phần kinh
6
tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện mục tiêu của
Đảng và Nhà nớc đề ra, góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ
xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trờng lao động và đồng thời
đáp ứng đợc sự mong mỏi của đông đảo ngời lao động trong các
thành phần kinh tế của cả nớc.
II. Những nội dung chủ yếu của BHXH
1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan
trọng của Đảng và Nhà nớc. Chính sách BHXH đã đợc thể chế hoá
và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ
nhằm bảo vệ ngời lao động khi họ không còn khả năng làm việc.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập
từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất
việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng
một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH,
nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngời lao động và gia
đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội". Chính vì vậy,
đối tợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biến
động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm của những ngời lao động tham gia BHXH.
Đồi tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao
động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế xã hội cuả mỗi nớc
mà đối tợng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao
động nào đó.
Dới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo
vệ ngời lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của ngời lao động,
ngời sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nớc, nhằm trợ
cấp vật chất cho ngời đợc bảo hiểm và gia đình trong trờng hợp bị
giảm hoặc mất thu nhập bình thờng do ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy
định của pháp luật, hoặc chết.
7
Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản lý
phí đợc hình thành từ đóng góp của ngời lao động, chủ sử dụng lao
động và nguồn hỗ trợ của Nhà nớc.
Quỹ BHXH đợc Nhà nớc bảo hộ để tồn tại và phát triển. Mục
đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất cho ngời bảo
hiểm khi gặp rủi ro đã đợc quy định trong luật.
2. Những nguyên tắc của BHXH
2.1. BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội để ngời lao động có
thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời
(ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v ).
Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm.
Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này đợc
thể hiện trớc hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ
BHXH). Mức bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh h-
ởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hởng đến sự phát
triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH
lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực tế có thu nhập là
cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia vào lao động (mất
sức lao động hay cao tuổi).
2.2. BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời gian
mức đóng bảo hiểm v.v ). Nh vậy, Nhà nớc đóng vai trò tổ chức,
định hớng để ngời lao động và ngời sử dụng lao động hiểu đợc
nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH.
Điều này đợc thể chế hoá trong Bộ luật Lao động và các văn bản
pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích
mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo hiểm, mà ngời lao động
có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hệ thống BHXH của
một số nớc trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho
phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.
2.3. Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH
Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan
đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ
8
BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ
(hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và đợc hởng các
chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế thờng dựa
vào tiền lơng tối thiểu, tiền lơng bình quân, quảng đời lao động
v.v Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế
độ BHXH mà ngời tham gia đợc hởng. Nguyên tắc này liên quan
trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích
ngời lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của ngời lao
động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế
thị trờng, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy
ra, thậm trí mang tính thờng xuyên. Sự thay đổi nơI làm việc và
thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v tạo ra
những giai đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá trình
làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH.
Việc đảm bảo cho ngời tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một
cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ
sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận tiên cho ngời lao động tham
gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do vậy,
mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất
đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với ngời lao động.
2.5. Công bằng trong BHXH
Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp trong
chính sách BHXH. Quan hệ BHXH đợc thực hiên trong một thời
gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá trình đó
có thể có sự thay đổi diễn ra. Mức và thời gian tham gia của từng
ngời và mức hởng lơng của họ cũng có thể không giống nhau. Việc
theo rõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn giản nhất là trong
điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có những khác biệt về đối
tợng thành phần và khu vực tham gia ở nớc ta hiện nay. Do vậy đảm
9
bảo công bằng trong BHXH là rất cần thiết nhng rất khó đảm bảo
tính tuyệt đối .
Sự công bằng, trớc hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa
đóng góp và đợc hởng. Điều này đợc thể hiên trong nội dung và
điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ
khác, công bằng còn đặt trongcác quan hệ xã hội giữa những ngời
tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa bàn,
ngành nghề khác nhau v.v dựa trên nguyên tắc tính xã hội của
bảo hiểm.
Trên đây là những nguyên tắc phải tính đến khi thiết kếvà thực
hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH.
3. Bản chất của BHXH
Bản chất của BHXH đợc thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau
đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã
hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ
chế thị trờng, mối quan hệ thuê mớn lao động phát triển đến một
mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và
hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay
BHXH không vợt quá trạng thái kinh tế của mỗi nớc.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở
quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên
BHXH và bên đợc BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là ngời
lao động hoặc cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Bên
BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thờng là cơ quan chuyên
trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ. Bên đợc BHXH là ngời lao động
và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý
muốn chủ quan của con ngời nh: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trờng hợp xảy ra không
10
hoàn toàn ngẫu nhiên nh: Tuổi già, thai sản v.v Đồng thời những
biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp
phải những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một
nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên
tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ
phía Nhà nớc.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu của ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập,
mất việc làm. Mục tiêu này đã đợc tổ chức lao động quốc tế (ILO)
cụ thể hoá nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để
đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân c và
các nhu cầu đặc biệt của ngời già, ngời tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những
quyền con ngời và đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và
ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: "Tất cả mọi
ngời với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng bảo hiểm xã
hội, quyền đó đợc đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế,
xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con
ngời".
ở nớc ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách
bảo đảm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có
cứu trợ xã hội và u đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nớc và xã hội về thu nhập
và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên trong xãhội,
trong nhng trờng hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, khôngđủ khả
năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thânvà gia đình. Sự giúp
đỡ này dợc thể hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng của Nhà nớc,
11
bằng tiền hoặc hiện vật đíng góp của các tổ chức xã hội và những
ngời hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh thần
của Nhà nớc, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những ngời
hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn
những ngời có công với nớc, liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ, thơng
binh,bệnh binh v.v đều là những đối tợng đợc hởng sự đãi ngộ của
Nhà nớc, của xã hội, u đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố
thí, ban ơn, mà nó là một chính sách xã hội có mục tiêu chính trị -
kinh tế - xã hội, góp phần củng cố thể chế chính trị của Nhà nớc tr-
ớc mắt và lâu dài, đảm bảo sự công bằng xã hội.
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tợng và phạm vi, song
BHXH, cứu trợ xã hội và u đãi xã hội đều là những chính sách xã
hội không thể thiếu đợc trong một quốc gia. Những chính sách này
luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và tất cả đề góp phần đảm bảo
an toàn xã hội.
4. Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động
tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp
này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ
đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo các điều
kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao
động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào
các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng
quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định
nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
ngời tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động
mà cả những ngời sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải
đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số ngời
12
lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lợng những
ngời này thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những ngời tham
gia đóng góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực
hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân
phối lại giữa những ngời lao động có thu nhập cao và thấp, giữa
những ngời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải
nghỉ việc v.v Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp
phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ
sử dụng lao động trả lơng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn
thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc
đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động luôn yên tâm,
gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích
cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế. Chức năng này biểu hiện nh một đòn bẩy kinh tế kích thích
ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là
năng suất lao động xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động,
giữa ngời lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, ng-
ời lao động và ngời sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội
tại, khách quan về tiền lơng, tiền công, thời gian lao động v.v
Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ đợc điều hoà và giải
quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có
lợi và đợc bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích
đợc với nhau. Đối với Nhà nớc và xã hội, chi cho BHXH là cách
thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhng vẫn giải quyết đợc
khó khăn về đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần
làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội đợc phát triển
và an toàn hơn.
13
5. Tính chất của BHXH
BHXH gắn liền với đời sống của ngời lao động, vì vậy nó có
một số tính chất cơ bản sau:
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội
Nh ở phần trên đã trình bày, trong quá trình lao động sản xuất
ngời lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó ngời sử dụng
lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không cảm nh: sản xuất
kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao động và hợp đồng
lao động luôn phải đợc đặt ra để thay thế v.v Sản xuất càng phát
triển, những rủi ro đối với ngời lao động và những khó khăn đối với
ngời sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối
quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này,
Nhà nớc phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và nh vậy,
BHXH ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh
tế xã hội của mỗi nớc.
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo
thời gian và không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội
dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến
mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ
những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến
mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho ngời lao động v.v
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn
có tính dịch vụ.
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn đợc
hình thành, bảo toàn và tăng trởng phải có sự đóng góp của các bên
tham gia và phải đợc quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức
đóng góp của các bên phải đợc tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất
phát sinh thiệt hại cuả tập hợp ngời lao động tham gia BHXH. Quỹ
BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho ngời lao động theo các điều
kiện của BHXH. Thực chất, phần đóng góp của mỗi ngời lao động
là không đáng kể, nhng quyền lợi nhận đợc là rất lớn khi gặp rủi ro.
Đối với ngời sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét