Khoá luận tốt nghiệp
đồng giao khoán không chỉ quy định tiền công phải trả mà còn quy định cả về khối
lượng công việc, đơn giá.
Một đặc điểm quan trọng của ngành xây dựng là phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa các phòng ban nhằm quản lý tốt các hoạt động liên quan và đảm bảo cho hoạt
động xây lắp diễn ra như kế hoạch, đảm bảo chất lượng công trình.
1.1.3. Đặc điểm tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Đặc điểm của sản xuất xây lắp và hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hưởng đến
tổ chức công tác kế toán trong đơn vị xây lắp thể hiện chủ yếu ở nội dung, phương
pháp trình tự kế toán chi phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu giá thành xây lắp, cụ
thể là:
- Đối tượng kế toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạn công
việc của hạng mục công trình… từ đó xác định phương pháp kế toán chi phí thích
hợp.
- Đối tượng tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành,
các giai đoạn công việc đã hoàn thành…từ đó xác định phương pháp tính giá thành
thích hợp.
- Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán trong hoạt động xây lắp,
dự toán được lập theo từng hạng mục chi phí. Để có thể dễ so sánh kiểm tra chi phí
sản xuất thực tế phát sinh và dự toán, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi
công, chi phí sản xuất chung.
1.2. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.2.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của 3 yếu tố: sức lao
động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất phát sinh các khoản mục
chi phí tương ứng để tạo ra giá trị sản phẩm.
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Do đó, hoạt đông kinh doanh xây lắp là sự kết hợp và biến đổi 3 yếu tố đầu vào
là tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống của con người để tạo nên giá
trị sử dụng cảu sản phẩm xây lắp phục vụ nhu cầu của con người.
Theo cách đó, chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp có thể định nghĩa là toàn bộ
chi phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu
thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp.
Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm gồm nhiều yếu tố khác nhau
nhưng trong điều kiện quan hệ hàng hóa tiền tệ, chúng được biểu hiện dưới hình thái
tiền tệ và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sản xuất.
Để hiểu bản chất của chi phí sản xuất chúng ta cần phân biệt khái niệm chi phí
và chi tiêu trong quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất ở đây là những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến
khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ kế toán chứ không phải mọi khoản chi ra
trong kỳ. Còn chi tiêu chỉ là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật tư, tài sản…bao
gồm chi tiêu cho quá trình sản xuất, quá trình tiêu thụ.
Chi phí và chi tiêu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát
sinh của chi phí, không có chi tiêu thì sẽ không có chi phí và chi phí là một bộ phận
của chi tiêu.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ các khoản hao phí vật
chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện hoạt động xây lắp nhằm tạo ra các loại sản
phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhận thầu
đã ký kết.
1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Tùy thuộc vào mục tiêu và các yêu cầu của công tác quản lý mà chi phí sản
xuất được phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
- Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí:
Chi phí về nguyên vật liệu:
Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế… sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Chi phí về nhân công:
Bao gồm toàn bộ tiền lương, phụ cấp lương phải trả người lao động và số tiền
trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương
và phụ cấp lương phải trả người lao động
Chi phí khấu hao TSCĐ:
Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích cho toàn bộ TSCĐ sử dụng trong
kỳ sản xuất kinh doanh
Chi phí về dịch vụ mua ngoài:
Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài sử dụng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh
Chi phí khác bằng tiền:
Bao gồm tất cả các chi phí khác bằng tiền không phải là các chi phí trên dùng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại chi phí này cho thấy được tỷ trọng, cơ cấu của từng yếu tố chi
phí, là cơ sở để lập và kiểm tra, đối chiếu việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo
yếu tố.
- Phân loại theo các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất
sản phẩm, thi công công trình.
Chi phí nhân công trực tiếp:
Bao gồm toàn bộ tiền lương, các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả
cho công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình
Chi phí sử dụng máy thi công:
Đối với doanh nghiệp thi công theo phương thức hỗn hợp vừa thủ công vừa sử
dụng máy thi công, trong giá thành sản phẩm xây lắp có khoản mục chi phí sử dụng
máy thi công. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp
đến việc sử dụng máy thi công: tiền lương, phụ cấp lương của công nhân điều khiển
máy thi công, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy thi công…
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Chi phí sản xuất chung:
Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí còn lại phát sinh trong quá trình thi công
xây lắp: lương của nhân viên quản lý công trình, các khoản trích theo lương theo tỷ lệ
quy định của nhân viên quản lý công trình và công nhân trực tiếp tham gia xây lắp,
chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của công trường…
Cách phân loại này rất thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp và
đối chiếu với dự toán sản xuất từ đó đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Phân loại theo cách ứng xử của chi phí:
Biến phí
Là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức hoạt động của doanh nghiệp, khối
lượng công việc hoàn thành: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp…
Những chi phí này tăng giảm khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi
Định phí
Là những chi phí không đổi trong phạm vi phù hợp khi mức độ hoạt động của
doanh nghiệp thay đổi. Phạm vi phù hợp là phạm vi giữa mức độ hoạt động tối thiểu
và mức độ hoạt động tối đa mà doanh nghiệp dự định tiến hành sản xuất.
Chi phí hỗn hợp
Là những chi phí gồm cả yếu tố định phí và yếu tố biến phí.
Cách phân loại này có ý nghĩa trong quản trị nội bộ doanh nghiệp, xác định các
chỉ tiêu và đưa ra những quyết định chiến lược nhằm đạt được kết quả mong muốn.
1.3. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.1. Khái niệm sản phẩm xây lắp
Trong doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền
của các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối
lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Giá thành sản phẩm luôn luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là
chi phí sản xuất bỏ ra và lượng giá trị khối lượng thu được cấu thành trong khối
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
lượng sản phẩm hoàn thành. Giá thành sản phẩm là sự dịch chuyển giá trị củ các yếu
tố bên trong nó, còn chi phí là cơ sở để hình thành nên giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý, kết quả của việc sử dụng các vật tư, tài sản
trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
thực hiện nhằm sản xuất ra khối lượng sản phâm nhiều nhất với chi phí thấp nhất. Giá
thành sản phẩm còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh của các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa. Nó là
chỉ tiêu vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Việc tính
đúng giá thành sản phẩm, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm hạ
giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng tiêu thụ từ đó nâng cao lợi nhuận cho doanh
nghiệp là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Các cách tính giá thành sản
phẩm mang tính chủ quan, không phản ánh đúng toàn bộ chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất đều có thể dẫn đến sự phá vỡ các quan hệ hàng hóa tiền tệ, không đánh
giá được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và không thực hiện được tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Trong hoạt động xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bằng
tiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định. Giá thành sản phẩm của mỗi
công trình thường khác nhau.
1.3.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong các doanh nghiệp xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau:
Giá thành dự toán
Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình .Giá thành
dự toán được xác định trên cơ sở thiết kế kỹ thuật thi công, định mức và đơn giá do
Nhà nước quy định cho từng khu vực thi công.
Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình = giá trị dự toán công
trình, hạng mục công trình + lãi định mức
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên mỗi công trình, hạng mục công trình
được xây dựng một dự toán riêng biệt
Theo thông tư số 04/2005/TT – BXD ngày 1/4/2005 hướng dẫn việc lập và
quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
Giá thành dự toán công tác xây lắp là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh
nghiệp có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế.
Nó là căn cứ để lập kế hoạch giá thành công tác xây lắp và vạch ra các biện pháp tổ
chức kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo nhiệm vụ hạ giá thành công tác xây lắp được
giao.
Trong giá thành dự toán của từng công trình, hạng mục công trình cần phân biệt
2 loại giá thành:
- Giá thành đấu thầu công tác xây lắp: được hình thành từ cơ chế quản lý bằng
cách đấu thầu trong xây dựng. Đây cũng là một loại giá thành dự toán do chủ đầu tư
đưa ra để các đơn vị xây dựng căn cứ vào đó để tính toán giá thành dự thầu của mình.
Nếu thấy giá thành dự thầu của mình nhỏ hơn hoặc bằng với giá thành do chủ đầu tư
đưa ra sẽ tham gia đấu thầu thi công công trình.
- Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: là giá thành được ghi trong hợp đồng ký
kết giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp sau khi đã thỏa thuận giao nhận thầu. Đây
chính là giá thành dự thầu của đơn vị xây lắp trúng thầu.
Giá thành kế hoạch
Là giá thành được xác định trên cơ sở giá thành dự toán gắn với điều kiện cụ
thể của doanh nghiệp như biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong
đơn vị, giá thành thực tế kỳ trước. Giá thành kế hoạch được lập dựa vào định mức chi
phí nội bộ của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, định mức nội bộ này phải tiên tiến hơn
định mức dự toán. Vì vậy, giá thành kế hoạch phải nhỏ hơn hoặc bằng giá thành hợp
đồng nên giá thành kế hoạch là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành trong giai đoạn kế
hoạch. Nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp:
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp = Giá thành dự toán công tác xây lắp –
Mức hạ giá thành dự toán
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế phát sinh mà đơn vị đã bỏ
ra để hoàn thành khối lượng xây lắp theo số liệu kế toán. Nó không chỉ bao gồm chi
phí trong định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không cần
thiết như: thiệt hại do phá đi làm lại, thiệt hại do ngừng sản xuất…do những nguyên
nhân chủ quan của doanh nghiệp.
Muốn đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất thi công của
đơn vị xây lắp ta có thể so sánh các loại giá thành trên với nhau. Giá thành dự toán
mang tính chất xã hội nên việc so sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán cho
phép ta đánh giá được sự tiến bộ hay yếu kém của doanh nghiệp xây lắp trong điều
kiện cụ thể về biện pháp thi công, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ chức quản lý
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc so sánh này cần đảm bảo tính thống nhất và có thể
so sánh được. Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành phải đảm bảo
như sau:
Giá thành dự toán ≥ giá thành kế hoạch ≥ giá thành thực tế
Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế hoạch
giá thành, có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích lũy sau khi đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có giá trị lớn, thời gian thi công
kéo dài, do đó để đáp ứng yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất và giá thành, doanh
nghiệp xây lắp còn theo dõi giá thành sản phẩm xây lắp theo hai chỉ tiêu là giá thành
khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước
Giá thành khối lượng hoàn chỉnh là giá thành của những công trình, hạng mục
công trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật, chất lượng, đúng thiết kế, bàn giao cho
chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một
cách tổng quát hiệu quả kinh tế của việc thi công công trình nhưng không đáp ứng
kịp thời các số liệu cần thiết cho việc đánh giá, phân tích, tính giá thành trong suốt
quá trình thi công. Do đó, để đáp ứng nhu cầu quản lý, đảm bảo sản xuất kịp thời đòi
hỏi phải xác định giá thành khối lượng hoàn thành quy ước
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Giá thành khối lượng hoàn thành quy ước là giá thành của các khối lượng xây
lắp mà các khối lượng xây lắp đó phải đảm bảo thỏa mãn các điều kiện sau:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật
- Khối lượng xây lắp phải được xác định một cách cụ thể và được chủ đầu tư
chấp nhận thanh toán
- Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý
Giá thành khối lượng hoàn thành quy ước phản ánh kịp thời chi phí sản xuất
cho đối tượng xây lắp trong quá trình thi công xây lắp từ đó giúp cho đơn vị xây lắp
phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp thích hợp,
cụ thể. Nhưng nó lại không phản ánh được một cách chính xác giá thành toàn bộ
công trình, hạng mục công trình. Do vậy, để đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý,
cung cấp thông tin kịp thời chính xác, toàn diện và có hiệu quả, trong doanh nghiệp
xây lắp phải áp dụng cả hai loại giá thành trên.
1.4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành và chi phí là hai chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau
trong quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp. Đó là 2 mặt khác nhau thống nhất của cùng
một quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí của quá trình sản xuất
còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Chúng đều bao gồm các chi
phí vè lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau về mặt
lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng trong một thời gian nhất
định, không phân biệt là cho sản phẩm nào và đã hoàn thành hay chưa. Còn khi nói
đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định tính cho một
khối lượng xây lắp hoàn thành theo quy định.
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành = chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ + chi
phí sản xuất phát sinh trong kỳ - chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết
với nhau. Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm
hoàn thành. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
1.5. Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất
cần được tổ chức kế toán theo đó.
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của công
tác kế toán chi phí sản xuất. Để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất cần căn
cứ vào đặc điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí trong sản xuất. Tùy theo
cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế, yêu cầu kế toán kinh tế
nội bộ của doanh nghiệp mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quy
trình công nghệ hay từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, Tùy theo
công nghệ sản xuất của sản phẩm, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu của công tác tính
giá thành sản phẩm mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng nhóm sản
phẩm, từng mặt hàng sản phẩm…
Trong sản xuất xây lắp, do đặc điểm sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc nên đối
tượng kế toán chi phí sản xuất thường là theo từng đơn đặt hàng hoặc một công trình,
hạng mục công trình.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất: là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm
vi giới hạn của đối tượng kế toán chi phí. Về cơ bản, phương pháp kế toán chi phí sản
xuất trong xây dựng gồm:
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo sản phẩm hay đơn đặt hàng.
Sản phẩm hoàn chỉnh trong xây dựng cơ bản để tính giá thành có thể là một ngôi nhà,
vật kiến trúc hoàn thành. Do đặc điểm của tính chất quy trình công nghệ, đặc điểm
của loại hình sản xuất, cũng như yêu cầu tính toán chi phí theo đơn đặt hàng nên hàng
tháng, các chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến sản phẩm hoặc đơn đặt hàng
nào sẽ được tập hợp và phân loại chi phí vào sản phẩm hoặc đơn đặt hàng đó, Khi
sản phẩm hoàn thành, toàn bộ chi phí phát sinh từ khi khởi công đến khi hoàn thành
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
là giá thành sản phẩm. Phương pháp tính giá thành sản phẩm được áp dụng là phương
pháp trực tiếp.
Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp
trực tiếp cho từng đơn đặt hàng, chi phí sử dụng máy thi công tập hợp theo từng công
trình, cuối kỳ phân bổ cho từng đơn đặt hàng hay từng sản phẩm theo tiêu thức thích
hợp. Chi phí sản xuất chung được tập hợp chung cho tất cả các đơn đặt hàng, cuối kỳ
tính phân bổ cho từng đơn đặt hàng theo tiêu thức thích hợp.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm
Phương pháp này được áp dụng khi tất cả các hạng mục công trình được tiến
hành cùng một lúc. Tất cả các chi phí phát sinh gồm các chi phí trực tiếp và chi phí
gián tiếp được phân loại và tập hợp theo giới hạn là nhóm sản phẩm. Khi xây dựng
hoàn thành, để tính giá thành của từng hạng mục công trình, phương pháp tính giá
được áp dụng là phương pháp tỷ lệ hoặc phương pháp hệ số
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo khu vực thi công hoặc theo bộ
phận thi công
Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp tổ chức kế toán nội bộ rất
rộng rãi. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là các bộ phận, đơn vị thi công như: tổ,
đội…Các chi phí sản xuất được phân loại và tập hợp theo các đối tượng trên. Để tính
giá thành của sản phẩm khi hoàn thành phải áp dụng phương pháp kết hợp như
phương pháp trực tiếp và phương pháp hệ số….
Các chi phí trực tiếp được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng sản phẩm trong
khu vực thi công, bộ phận thi công, các chi phí sử dụng máy thi công , chi phí sản
xuất chung được tập hợp theo từng khu vực, bộ phận thi công và được phân bổ cho
từng đối tượng trong bộ phận theo tiêu thức thích hợp
1.6. Nội dung kế toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.6.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của các vật liệu chính, vật liệu phụ,
vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc…cần thiết để tham gia cấu thành
thực thể sản phẩm xây lắp như:
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét