Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Thực trạng quản lý nhà nước về công tá thanh tra, những vấn đề cần tập trung giải quyết để tăng cường hiệu quả quản lí nhà nước về công tác thanh tra

Từ trước đến nay, công tác thanh tra ở các địa phương rất được coi
trọng, trong bất cứ giai đoạn nào, hoạt động thanh tra đều được xác định là
công cụ hữu hiệu phục vu yêu cầu quản lý mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội
của chính quyền nhân dân các cấp. Trước khi Pháp lệnh Thanh tra được ban
hành, Thanh tra các địa phương đã được tổ chức khá quy mô, cán bộ, Thanh
tra viên nhiều người có năng lực và trình độ. Sau khi Pháp lệnh được thông
qua, các tổ chức Thanh tra ở địa phương được kiện toàn và phát triển mạnh
mẽ. Mạng lưới thanh tra tỉnh, thành phố, huyện quận được xây dựng đều
khắp trong phạm vi cả nước. Tuy mức độ khác nhau về số lượng cán bộ,
Thanh tra viên và quy mô tổ chức thanh tra, nhưng hoạt động thanh tra các
địa phương đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý của
chính quyền các cấp. Hàng năm, các tổ chức Thanh tra đã tiến hành hàng
ngàn cuộc thanh tra kinh tế-xã hội, xét, giải quyết hàng vạn vụ việc khiếu
nại, tố cáo. Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm trong quản lý kinh tế,
quản lý xã hội và thực hiện chính sách, pháp luật. Đã kiến nghị nhiều vấn đề
có tính chất vĩ mô nhằm điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường
hiệu lực pháp luật.
Tuy vậy, thực tế tổ chức và hoạt động thanh tra ở các địa phương còn
nhiều tồn tại. Thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về mặt tổ
chức tương đối hoàn chỉnh. Song, về chất lượng cán bộ chưa thật sự đáp ứng
yêu cầu. Trong hoạt động còn nhiều hạn chế, nhất là việc triển khai những
cuộc thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện
công tác quản lý nhà nước đối với thanh tra cấp dưới chưa thực hiện một
cách đầy đủ. Thanh tra các quận, huyện, Thanh tra các sở hầu hết số lượng
cán bộ không đủ so với yêu cầu. Năng lực công tác của cán bộ còn nhiều hạn
chế. Những huyện ở miền núi, trung du, công tác thanh tra gặp rất nhiều khó
khăn, nhưng không được đầu tư cán bộ, điều kiện làm việc một cách đúng
mức.
b. Xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn chỉ đạo công tác
thanh tra
Đây là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về
công tác thanh tra. Hàng năm, căn cứ vào chỉ đạo của Chính phủ, yêu cầu
công tác quản lý của các cấp, các ngành, tình hình khiếu nại, tố cáo, Tổng
Thanh tra nhà nước có chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra
trong toàn ngành. Tập trung vào những vấn đề nổi cộm bức xúc, những vụ
việc phức tạp xẩy ra có tính chất phổ biến trong phạm vi cả nước. Chú trọng
xem xét, giải quyết các điểm nóng, những vụ việc phát sinh tại cơ sở. Do có
định hướng đúng, nhiều cuộc thanh tra đã được tiến hành tốt, thu được nhiều
kết quả nên được các cấp, các ngành đánh giá cao như các cuộc thanh tra về
dự trữ quốc gia, tài chính, ngân hàng, năng lượng, bảo hiểm, thực hiện
chương trình, dự án về đầu tư phát triển nông thôn… Trong hoạt động,
Thanh tra nhà nước, Thanh tra các bộ, ngành, Thanh tra các địa phương
thường xuyên phối hợp với lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch giải
quyết kịp thời, dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài. Có các
biện pháp hữu hiệu khắc phục, ngăn chặn những vụ việc diễn ra với phạm vi
và quy mô rộng liên quan đến chính sách, chủ trương của Nhà nước. Trong
các công cuộc thanh tra diện rộng, Thanh tra nhà nước thường có các hướng
dẫn chỉ đạo thường xuyên, tổ chức các đợt tập huấn, thống nhất phương
pháp chỉ đạo, điều hành, biện pháp xử lý đều bảo đảm nhất quán trong hoạt
động thanh tra của các tổ chức Thanh tra nhà nước. Thanh tra nhà nước còn
tiến hành nhiều cuộc điều tra, phúc tra những vụ việc do Thanh tra các địa
phương, bộ, ngành thực hiện, cùng với lãnh đạo bộ, ngành, địa phương tháo
gỡ những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau
trong xử lý sau thanh tra.
Hàng năm, Thanh tra nhà nước tổ chức nhiều hội nghị tổng kết đánh
giá, kiểm điểm công tác thanh tra trong ngành, đồng thời xây dựng phương
hướng, kế hoạch thanh tra trong năm tới. Tổ chức các cuộc hội nghị thanh
tra với phạm vi và quy mô khác như trong phạm vi bộ, ngành, các địa
phương, thanh tra diện rộng, các cuộc thanh tra chuyên đề, thanh tra có tính
chất phức tạp. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để tăng cường hiệu
quả thanh tra, nâng cao nghiệp vụ thanh tra.
Mặc dù có những chuyển biến tích cực, song công tác chỉ đạo, xây
dựng chương trình, kế hoạch công tác thanh tra cũng bộc lộ nhiều tồn tại cần
khắc phục. Việc xây dựng chương trình thanh tra toàn ngành chưa thật sự
mang tính chủ động. Nội dung chương trình chưa mang tính vĩ mô, mới tập
trung chủ yếu dựa vào những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu vi phạm. Chưa
chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra có tính chất phòng ngừa
để tập trung làm rõ hiệu quả một chủ trương hay một phương thức quản lý.
Trong hoạt động thanh tra đã mất khá nhiều thời gian tập trung vào việc xem
xét, giải quyết những vụ việc vi phạm đã xẩy ra. Do đó, kết luận, kiến nghị
còn hạn chế trong phạm vi nhất định, chưa mang tính dự báo nhằm khắc
phục những vi phạm, những sơ hở trong quản lý có tính chất phổ biến.
Việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm, chủ yếu là
của Thanh tra nhà nước, đồng thời định hướng cho Thanh tra các tỉnh, thành
phố. Đối với chương trình của Thanh tra các bộ, ngành thì ít được quan tâm,
nội dung hoạt động của Thanh tra các bộ, ngành chủ yếu do lãnh đạo ở đó
quyết định. Trong thực tế, kết quả hoạt động của Thanh tra các bộ ngành
không được gửi về Thanh tra nhà nước, nhiều báo cáo mang hình thức chiếu
lệ, không đảm bảo khách quan, phản ánh không đẩy đủ hoạt động thanh tra
tại bộ, ngành. Sự không nhất quán trong chỉ đạo, việc thiếu gắn bó, liên kết
giữa Thanh tra nhà nước với Thanh tra bộ, ngành đã và đang làm giảm sút
nghiêm trọng hiệu quả công tác thanh tra.
Ngoài ra, trong việc xử lý các vấn đề sau thanh tra cũng thiếu sự
thống nhất giữa Thanh tra bộ, ngành với Thanh tra tỉnh, thành phố. Giữa
thanh tra địa phương này với thanh tra địa phương khác. Nhiều trường hợp
vì quá lệ thuộc vào quan điểm của lãnh đạo địa phương, bộ, ngành mà làm
cho các quyết định xử lý thiếu trách nhiệm công bằng, do đó không ít trường
hợp đã phát sinh khiếu nại, tố cáo.
Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, sự chỉ đạo cụ thể, trực tiếp của Thanh
tra cấp trên đối với Thanh tra cấp dưới chưa được thực hiện tốt. Vì vậy, khi
đụng chạm đến các vấn đề mới, vấn đề có tính chất chuyên sâu, các tổ chức
thanh tra cấp dưới gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xem xét, giải
quyết. Do đó, hiệu quả thanh tra rất hạn chế. Việc tổng kết rút kinh nghiệm
từ các cuộc thanh tra, nhất là các cuộc thanh tra diện rộng có ý nghĩa lớn về
mặt chính trị - xã hội chưa được tổ chức thường xuyên, kịp thời. Vì vậy,
không rút ra được bài học để chỉ đạo chung cho toàn ngành, đồng thời không
đổi mới và nâng cao được nghiệp vụ công tác thanh tra.
c. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, nghiên cứu khoa
học và xây dựng nghiệp về vụ thanh tra
Hiệu quả công tác thanh tra phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ
cán bộ, Thanh tra viên. Một ngành Thanh tra mạnh không thể thiếu được đội
ngũ cán bộ, Thanh tra viên giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ, có
năng lực và phẩm chất tốt. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, trong những
năm qua, ngành Thanh tra đã tiến hành nhiều biện pháp để bồi dưỡng nâng
cao năng lực, trình độ cho cán bộ, Thanh tra viên. Đã chú trọng đến việc bồi
dưỡng, đào tạo trước mắt, đồng thời có kế hoạch lâu dài để đào tạo cho
những cán bộ phục vụ lâu dài trong ngành Thanh tra. Trường Cán bộ Thanh
tra cũng được kiện toàn và củng cố, bổ sung nhiều cán bộ mới, đầu tư trang
thiết bị, điều kiện làm việc, đổi mới giáo trình, nội dung chương trình giảng
dạy. Hàng năm, Thanh tra nhà nước tập trung mở các lớp bồi dưỡng cho cán
bộ mới vào ngành, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ với bộ, ngành, các
tỉnh, thành phố mở các lớp bồi duỡng, đào tạo cho cán bộ, Thanh tra viên,
cán bộ quản lý của bộ, ngành, địa phương.
Để đào tạo cán bộ thanh tra có kiến tổng hợp sâu rộng, đa dạng đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác, hàng năm Thanh tra nhà nước cử
nhiều cán bộ đi học lớp đào tạo chính quy, dài hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ
nâng cao trình độ quản lý v.v… Trong những năm qua, năng lực, trình độ
của cán bộ thanh tra được nâng lên khá nhiều, số cán bộ đại học chiếm tỷ lệ
khá cao (63%) có thể đảm đương được các nhiệm vụ được giao.
Về công tác nghiên cứu khoa học: Những năm gần đây, công tác
nghiên cứu khoa học được quan tâm nhất định. Từ năm 1992, Trung tâm
Nghiên cứu khoa học - Thông tin Thanh tra được thành lập, có nhiệm vụ
giúp Tổng Thanh tra nhà nước tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa
học. Sau đó, Hội đồng khoa học Thanh tra nhà nước ra đời, có nhiệm vụ
tham mưu giúp Tổng Thanh tra nhà nước chỉ đạo, định hướng công tác khoa
học của ngành Thanh tra. Vì vậy, hoạt động khoa học đã được thúc đẩy và
thu được nhiều kết quả. Công tác nghiên cứu tập trung giải quyết những vấn
đề có tính chất lý luận cơ bản về công tác thanh tra, lý luận về nghiệp vụ
thanh tra, những vấn đề đặt ra trong công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố
cáo, chống tham nhũng, quản lý nhà nước về công tác thanh tra v.v…
Thời gian qua, chúng ta đã nghiên cứu triển khai nhiều đề tài quan
trọng, trong đó có 2 đề tài cấp nhà nước độc lập, gần 20 đề tài cấp bộ và
hàng chục chuyên đề cấp cơ sở. Kết quả thu được đã làm sáng tỏ nhiều vấn
đề khoa học về công tác thanh tra, làm cơ sở ch việc nghiên cứu xây dựng
các văn bản pháp luật về thanh tra. Hoạt động khoa học đã lôi cuốn, thu hút
nhiều cán bộ tham gia, tạo ra không khí nghiên cứu và củng cố, nâng cao tư
duy khoa học cán bộ, Thanh tra viên.
Tuy đạt được những kết quả nhất định, song công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ thanh tra, nghiên cứu khoa học, xây dựng nghiệp vụ công tác
thanh tra còn nhiều điểm bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc
xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra chính quy, hiện đại.
Số cán bộ thanh tra có trình độ đại học chiếm tỷ lệ khá cao, song chủ
yếu được đào tạo một chuyên ngành. Quá trình công tác quá dài, không được
đào tạo, bồi dưỡng lại nên kiến thức cũ kỹ, lạc hậu, nhất là về quản lý kinh tế
và kiến thức pháp luật. Số người có trình độ sau đại học chiếm tỷ lện quá ít,
thiếu những chuyên gia giỏi trong một số lĩnh vực. Việc tuyển dụng cán bộ
chưa thật hợp lý, thiếu chú ý đến tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ. Số cán
bộ tuổi cao chiếm tỷ lệ trong ngành khá cao, do đó dẫn đến tình trạng trì trệ,
yếu kém trong tư duy, thiếu năng động, sáng tạo trong giải quyết công việc.
Hiện tại, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn chắp vá chưa có tính vĩ
mô, quy mô tổng thể trong toàn ngành. Giáo trình bồi dưỡng, đào tạo của
Trường Cán bộ Thanh tra chậm được đổi mới. Chương trình nâng cao chưa
đầy đủ, nội dung nghèo nàn, thiếu những thông tin mới, nhất là kiến thức về
nghiệp vụ thanh tra. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy của
nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu hiện nay.
Nhận thức về công tác nghiên cứu khoa học của các cấp còn chưa đầy
đủ, do đó việc đầu tư cho công tác này còn những hạn chế. Trung tâm
nghiên cứu khoa học - Thông tin, số lượng cán bộ nghiên cứu quá mỏng,
kinh phí hạn hẹp, điều kiện làm việc thiếu thốn. Vì vậy, không thể độc lập
triển khai nghiên cứu những vấn đề khoa học có quy mô và phạm vi rộng
lớn.
Đứng trước yêu cầu đổi mới của tình hình phát triển kinh tế - xã hội,
đòi hỏi đổi mới toàn diện và sâu sắc ngành Thanh tra, công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ phải được đặt lên hàng đầu. Công tác nghiên cứu khoa học
phải đi trước một bước.
d. Về hợp tác quốc tế về công tác thanh tra
Đối với mọt ngành kinh tế, kỹ thuật hay bất cứ một ngành nào với
nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hay bảo vệ pháp luật thì hoạt động hợp tác
quốc tế là không thể thiếu được. Trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta tiến
hành đa dạng hoá các quan hệ, tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới
thì việc mở rộng quan hệ quốc tế trong hoạt động thanh tra là yêu cầu bức
thiết.
Ngay từ khi mới thành lập, ngành Thanh tra đã chú ý tăng cường hợp
tác nhiều mặt với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Chúng ta thường
xuyên tổ chức những đợt học tập trao đổi, nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm
công tác ở nước bạn, đồng thời mời các chuyên gia nước ngoài đến Việt
Nam để hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động thanh
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo…
Những năm gần đây, Thanh tra nhà nước đẩy mạnh quan hệ với các
nước có chế độ chính trị khác nhau. Chúng ta đã cử nhiều đoàn cán bộ
nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm của nước ngoài về tổ chức và hoạt động
thanh tra, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xây dựng Toà án
Hành chính v.v… đã mời các đoàn, các chuyên gia nước bạn đến Việt Nam
để trao đổi và hội thảo các vấn đề về hoạt động thanh tra và các vấn đề khác
mà các bên quan tâm. Nhiều hội thảo quốc tế đã được diễn ra, thu hút sự
quan tâm chú ý và sự tham gia cộng tác của các tổ chức Thanh tra trong khu
vực và trên thế giới. Bằng nhiều sự cố gắng, đến nay Thanh tra nhà nước đã
đặt quan hệ ngoại giao với nhiều nước, nhiều cơ quan đối tác của Pháp, Đức,
Thuỵ Điển, Trung Quốc, Hàn Quốc, HồngKông, Xingapo, Malaixia…
Mặc dù vậy, nội dung chương trình hợp tác quốc tế về công tác thanh
tra còn mang nặng hình thức, quan hệ hữu nghị, các vấn đề chuyên sâu về
nghiệp vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và chống tham nhũng chưa
được đầu tư nghiên cứu một cách đúng mức. Việc hợp tác để học tập, bồi
dưỡng, đào tạo cho cán bộ thanh tra chưa được thực hiện. Hoạt động đối
ngoại của cơ quan chưa gắn bó, liên quan với hoạt động nghiên cứu khoa
học. Phương thức trao đổi thông tin giữa các bên còn nghèo nàn, đơn điệu.
Bộ phận chuyên trách đối ngoại của Thanh tra nhà nước còn thiếu những cán
bộ năng lực, chuyên môn, do đó hoạt động còn nặng về sự vụ, thiếu tính chủ
động sáng tạo, chưa thật sự trở thành cơ quan tham mưu đầy đủ cho Tổng
Thanh tra nhà nước về công tác đối ngoại.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT VÀ TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả côngt tác thanh tra phục vụ thiết
thực cho công tác quản lý của các cấp, các ngành. Nghị quyết Trung ương 3
khoá VIII xác định phải kiện toàn, đổi mới, tăng cương, phát huy vai trò của
công tác thanh tra. Do đó, việc tăng cường quản lý nhà nước về công tác
thanh tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để khắc phục những tồn
tại, những mặt yếu kém về công tác này, cần tập trung giải quyết tốt các vấn
đề sau đây:
- Cần xác định, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan Thanh tra nhà nước trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Làm
rõ phạm vi ranh giới giữa hoạt động thanh tra với các cơ quan có chức năng
kiểm tra, giám sát, từ đó xác định cơ quan thanh tra nhà nước thuộc hành
pháp hay lập pháp. Cơ quan Thanh tra nhà nước được tổ chức như thế nào,
Thanh tra nhà nước ở Trung ương, Thanh tra bộ, ngành, Thanh tra các địa
phương có nằm trong cùng một hệ thống hay không? Được tổ chức theo
hướgn tập trung thống nhất hay được tổ chức theo nguyên tắc song trùng
trực thuộc? Để giải quyết được cơ bản vấn đề này, trước mắt phải tập trung
sửa đổi Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, xây dựng Luật Thanh tra, làm cơ sở
pháp lý cho tổ chức và hoạt động thanh tra. Sớm ban hành Luật Khiếu nại, tố
cáo thay thế Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó làm rõ nội
dung quản lý nhà nước về công tác thanh tra, vai trò, trách nhiệm của các cơ
quan Thanh tra nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố
cáo.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về công tác thanh tra, trước
mắt tập trung vào việc tổng kết đánh giá một cách toàn diện việc thực hiện
Pháp lệnh Thanh tra trong thời gian qua. Trong đó, tổng kết được những ưu
điểm, rút ra được những hạn chế, những điểm bất hợp lý, chưa phù hợp với
tình hình hiện nay. Phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiệu
lực, hiệu quả công tác thanh tra còn hạn chế. Từ đó có kiến nghị để xây
dựng tổ chức và hoạt động thanh tra phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước
và phù hợp với phương hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay.
- Rà soát các văn bản pháp luật hiện hành về công tác thanh tra để
phát hiện những quy định bất hợp lý, chồng chéo, kiến nghị cấp có thẩm
quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền hoặc kiến
nghị cấp có thẩm quyền ban hành những văn bản bổ sung, khắc phục những
khiếm khuyết, những điểm bất hợp lý của Pháp lệnh Thanh tra. Chẳng hạn
như sớm trình Chính phủ ban hành các văn bản để khắc phục tình trạng
chồng chéo, bất hợp lý trong tổ chức của các cơ quan có thẩm quyền phối
hợp với các bộ, ngành hữu quan điều chỉnh và thống nhất một số quy định
pháp luật về phương hướng tổ chức, thành lập các tổ chức Thanh tra ở bộ,
ngành.
- Thanh tra nhà nước phát huy vai trò của cơ quan đứng đầu trong hệ
thống để chỉ đạo và triển khai các hoạt động quản lý nhà nước. Xây dựng
định hướng hoạt động hàng năm cho ngành Thanh tra, xây dựng chương
trình, kế hoạch thanh tra thường xuyên cho Thanh tra bộ, ngành, Thanh tra
tỉnh, thành phố. Tránh sự chồng chéo, trùnh lắp trong chương trình, kế hoạch
thanh tra. Tăng cường phối hợp trao đổi thông tin với các cơ quan có chức
năng thanh tra, kiểm tra (Viện Kiểm sát, Công an, Kiểm tra Đảng) để xây
dựng chương trình, kế hoạch của mỗi ngành, tránh chồng chéo. Tăng cường
vai trò các vụ chức năng của cơ quan Thanh tra nhà nước trong việc thực
hiện quản lý nhà nứoc. Thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra các
cấp, các ngành trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, về khiếu nại, tố
cáo. Đôn đốc kiểm tra các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc thực hiện
các kết luận, quyết định, kiến nghị về thanh tra, các quyết định giải quyết
khiéu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật.
- Kiện toàn các tổ chức Thanh tra các cấp, các ngành, nhất là Thanh
tra sở, ngành, Thanh tra huyện, quận chú trọng tới thanh tra các địa phương
ở miền núi, trung du. Bố trí cán bộ lãnh đạo đúng tiêu chuẩn, tuyển chọn bổ
nhiệm cán bộ, Thanh tra viên bảo đảm đúng năng lực, trình độ. Xây dựng
chiến lược về cán bộ đảm bảo ngành Thanh tra phát triển theo định hướng
chính quy hiện đại.
- Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm hoạt động công tác thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chú trọng vào thanh tra các chuyên đề, thanh tra
diện rộng, những vụ việc phức tạp từ đó có bài học kinh nghiệm phổ biến
chung cho toàn ngành. Bổ sung và nâng cao lý luận về nghiệp vụ công tác
thanh tra.
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học. Xây dựng hệ
thống lý luận về thanh tra, về nghiệp vụ thanh tra. Đa dạng hoá các hoạt
động khoa học. Triển khai những vấn đề mang tính vĩ mô, đẩy mạnh hơn
nữa việc nghiên cứu những đề tài vừa và nhỏ để giải quyết những vấn đề
bức xúc đặt ra thường xuyên trong công tác thanh tra. Củng cố Trung tâm
nghiên cứu khoa học - Thông tin Thanh tra, tiến tới thành lập Viện Nghiên
cứu Khoa học Thanh tra./.
NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC THANH TRA
NGUYỄN NGỌC TẢN
Thanh tra viên - Thanh tra nhà nước
I. KHÁI QUÁT NHẬN THỨC NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
1. Nhận thức về quản lý nhà nước
Trong quá trình phát triển của xã hội; sự xuất hiện của Nhà nước là
một hiện tượng chính trị-xã hội đặc biệt, một hiện tượng lịch sử. Sự phát
triển của xã hội nói chung và của Nhà nước nói riêng chù yếu dựa vào các
yếu tố lao động, tri thức và quản lý. Đây là 3 yếu tố cơ bản, trong đó quản lý
đóng vai trò quan trọng chi phối 2 yếu tố lao động và tri thức. Lý luận và
thực tiễn đều chứng minh rằng muốn lao động có hiệu quả phải có quản lý;
Đồng thời muốn quản lý tốt phải có tri thức, quản lý cũng chính là yếu tố cơ
bản tạo ra khả năng phát triển tri thức của con người…
Trở lại vấn đề xã hội và Nhà nước, chúng ta thấy rằng: Khi Nhà nước
xuất hiện, phần lớn các công việc của xã hội do Nhà nước quản lý - Nhà
nước thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với các nhiệm vụ của nó. Nếu
như quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các
đối tượng quản lý bằng tổ chức và quyền uy nhằm đạt được những kết quả
đã định trước thì quản lý nhà nước cũng mang những đặc điểm chung như
vậy. Nghĩa là Nhà nước dùng pháp luật làm phương tiện chủ yếu để quản lý
nhà nước. Thông qua pháp luật, Nhà nước có thể trao một phần hoặc toàn bộ
quyền lực của mình cho các cá nhân hay tổ chức, để các chủ thể này thay
mặt Nhà nước tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước.
Nghiên cứu sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, khoa học pháp lý đã
kết luận rằng: Quản lý nhà nước là sự tác động của chủ thể mang quyền lực
nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Nói cụ thể hơn, theo các nhà lý luận
pháp lý hiện nay thì quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét