Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Web Caching

Đồ án tốt nghiệp
I.7 Trang động (Dynamic Page)
Các trang động được tạo ra trong quá trình đáp ứng cho yêu cầu của người sử
dụng. Một Web browser thu thập thông tin bằng cách thực hiện một trang có các
Textbox, Menu, Checkbox cho phép người sử dụng điền vào hoặc lựa chọn. Khi
người sử dụng click vào một nút (button) trên Form, dữ liệu từ Form được gửi tới
Web server. Server đưa dữ liệu này tới một Script hoặc một trình ứng dụng để xử lý.
Sau đó server gửi lại kết quả cho browser bằng một trang HTML. Ví dụ sau đây cho
phép ngưới sử dụng gửi một yêu cầu tới một Internet Server API (ISAPI), ứng dụng
này dùng để cộng 2 số. Ngưới sử dụng ngập 2 số được cộng sau đó click một button
để gửi 2 số đó tới web server. Web server gọi một ISAPI để cộng 2 số, sau đó trả lại
kết quả cho browser bằng một trang HTML.
Minh họa sau đây cho phép người sử dụng truy cập vào database bằng cách
dùng Internet Database Conector. Người sử dụng hồn thành một Form sau đó click
vào một button để gửi dữ liệu tới server. Server nạp dữ liệu vào database sau đó trả
lại một trang HTML kết quả cho browser.
I.8 Sử dụng Internet Information Server như thế nào ?
Internet Information Server đủ khả năng đáp ứng các chức năng quan trọng cho các
tổ chức khác nhau. Chúng ta có thể sử dụng một Server cho một Web site hoặc cũng
có thể sử dụng nhiều server cho một Web site. Một trong những nhân tố để xác định
cấu hình Internet Information Server là nó được sử dụng bên trong nội bộ của một
mạng Intranet hay nó được nối kết tới Intetnet.
Các kịch bản sau đây giúp ta hiểu thêm phạm vi và khả năng sử dụng của
Internet Information Server.
5
Trang 5
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
I.9 Các kịch bản Intranet
Trong một nhóm(Workgroup) ta có thể tích hợp Internet Information Server
với một Server. Web server của Workgroup có khả năng tổ chức các loại trang web để
đáp ứng cho các ứng dụng trong workgroup như là cho phép giao tiếp với Database
SQL hay là cho phép truy xuất tài nguyên từ xa(Remote Access Service).
Trong một mạng thương mại lớn có nhiều bộ phận (workgroup), mỗi bộ phận
chạy Internet Information Server trên server của mình. Một server trung tâm được
dùng để phối hợp và quản lý tất cả thông tin trên mạng.
I.10 Các kịch bản Internet.
Internet Information server có thể là một Web server đơn giản trên Internet
như ví dụ minh họa sau đây
6
Trang 6
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
Trong các Site lớn hơn, ta có thể cho phép các thành viên trong mạng truy xuất tới
Web server và sử dụng các công cụ chế tác như FrontPage để chế tác nội dung cho
Web server.
Sự tích hợp Internet Information Server với Windows NT có thể tạo ra các
server có nhiều chức năng. Ví dụ như một công ty có nhiều site khác nhau trên thế
giới, có thể dùng Internet Information Server để truyền thông giữa các site này với
nhau, và ta cũng có thể dùng RAS để cho phép truy cập tới Intranet hoặc Internet.
7
Trang 7
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
Nhiều kịch bản nối kết tới Internet còn liên quan tới thành phần thứ ba là các
Routersvà các thiết bị an ninh nằm giữa máy tính của ta và Internet dùng để lọc các
gói(packets) thông tin gửi qua chúng. Các trường hợp này chưa được đề cập trong
các kịch bản ở trên.
CHƯƠNGII : TÌM HIỂU WEB CACHING
II.1 Các thuật ngữ cơ bản
Tuy nhiên trước khi đi vào các khái niệm về Web caching ta sẽ tìm hiểu một
số thuật ngữ hay được dùng trong khi giải thích các khái niệm và nó cũng là những
thuật ngữ chuẩn của Internet.
II.1.1 Client – Server
Đây là những khái niệm nền tảng để xây dựng nên một hệ thống ứng dụng
Web.
- Client: là các chương trình ứng dụng dùng để thiết lập kết nối với mục đích gửi đi
các yêu cầu cung cấp dịch vụ. Đó là các trình duyệt Web, các trình biên tập (editor)
hoặc các công cụ người sử dụng cuối khác. Các client thông dụng nhất thường chạy
trên máy của người sử dụng cuối
- Server: là chương trình ứng dụng dùng để chấp nhận kết nối với mục đích phục vụ
các yêu cầu cung cấp dịch vụ bằng cách gửi các đáp ứng trở lại phía yêu cầu. Đối với
các hệ thống cung cấp dịch vụ lớn, các chương trình này thường chạy trên các hệ
thống phần cứng riêng và thường được phân biệt là phần cứng server và phần mềm
server.
8
Trang 8
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
Một máy chủ Web (Web server) thì quản lý và cung cấp việc truy cập tới một
tập hợp các tài nguyên trên nó. Tài nguyên trên nó thì có thể đơn giản chỉ là các file
văn bản, hình ảnh hoặc có thể là các dữ liệu phức tạp hơn chẳng hạn như các cơ sở
dữ liệu.
Trên nền tảng Web thì hầu hết các yêu cầu chủ yếu là các công việc download.
Các máy client thì download thông tin từ server. Trong trường hợp này chính nó gửi
thông tin yêu cầu chứa tên của tài nguyên cộng thêm với một vài thông tin từ phía
client thì hồn tồn nhỏ (200 B) trong đó thông tin download về thì thường là các dữ
liệu văn bản hoặc hình ảnh với kích thước trung bình khoảng 10000B. Đây chính là
một trong những đặc điểm cơ bản của hệ thống Web. Tốc độ nhận dữ liệu bao giờ
cũng cao hơn tốc độ truyền dữ liệu đi bởi vậy hầu hết người sử dụng Web thì thường
xuyên nhận thông tin.
Web client thường dùng được gọi là trình duyệt (browser). Những ứng dụng
này chẳng hạn như là Nescape và Microsoft Internet Explore. Mục đích của những
trình duyệt này là hiện thị nội dung của một trang Web
Có một số lượng lớn các server được sử dụng rộng rãi trên Web. Apache
HTTP server là một trong những server Web thông dụng và hồn tồn miễn phí.
Netcape , Microsoft và các công ty khác cũng có một số các sản phẩm. Nhưng hầu
hết tất cả các sản phẩm thì đều tập trung và hiệu năng của các server. Một site nổi
tiếng trên Net thì có thể nhận 10 triệu yêu cầu một ngày. Trong trường hợp này thì cả
phần cứng lẫn phần mềm đều phải được thiết kế một cách cẩn thận để có thể đáp ứng
được nhiều yêu cầu một lúc như vậy. Có rất nhiều site chạy trên nhiều server song
song với nhau để có thể đáp ứng được tỉ lệ cao các yêu cầu như vậy và còn phục vụ
cho việc dự phòng.
II.1.2 Proxy
Một chương trình trung gian có thể hoạt động với vai trò của server hoặc của
client nhằm mục đích thay mặt các client tạo ra các yêu cầu. Yêu cầu được phục vụ
tại chỗ hoặc chuyển qua các proxy đến các server khác. Một proxy phải biết biên dịch
và nếu cần có thể viết lại các thông điệp yêu cầu trước khi chuyển tiếp yêu cầu. Các
proxy thường được sử dụng như các bộ đóng gói phía client qua các firewall của
mạng và như các chương trình hỗ trợ để xử lý các yêu cầu thông qua các giao thức
không được triển khai ở phía người sử dụng.
II.1.3 Cache
Một nơi lưu trữ tạm thời các bản tin đáp ứng của chương trình, một hệ thống
phụ trợ điều khiển việc lưu trữ, cung cấp và huỷ các tài liệu. Cache lưu các bản tin
đáp ứng có thuộc tính có thể lưu trữ được (cacheable) để giảm thời gian đáp ứng và
bǎng thông tiêu thụ cho mỗi yêu cầu. Bất cứ client hay server nào đều có thể có
cache.
- Mạng lưới cache server (caching mesh): hệ thống các caching server phối hợp hoạt
động với nhau.
- Web cache server cục bộ (local cache): cache server chạy trên cùng một mạng LAN
với client.s
9
Trang 9
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
- Web cache server cấp một: Web cache server mà client của người sử dụng kết nối
trực tiếp đến . Loại này gần giống loại cục bộ.
- Web cache server cấp cao (upper-level cache hay entry cache): nhìn từ phía client,
tất cả các cache tham gia vào mạng lưới caching không kết nối thẳng đến client là các
cache server cấp cao. Trong các loại Web cache server cấp cao có loại Parent cache
được kết nối trực tiếp đến Web server. Như vậy, trong một mạng lưới thì tên của các
Web cache chỉ mang tính chất tương đối.
II.1.4 Các đối tượng Web( Web Object)
“Đối tượng” ở đây có thể được hiểu là các loại dữ liệu khác nhau trên server
chẳng hạn như file audio, file Zip, Đối tượng Web thì có một số các đặc điểm quan
trọng như kích thước, kiểu file (HTML, image, audio ), thời gian tạo ra file, thời gian
chỉnh sửa gần nhất.
II.1.5 Nhận biết tài nguyên (Resource Indentifier)
Nhận biết tài nguyên cũng là một trong những khái niệm cơ bản của kiến trúc
Web. Đó có thể là tên hay địa chỉ của một đối tượng Web. Nó cũng giống như là địa
chỉ của một con đường hay số điện thoại. Thông thường thì người ta hay gọi là
Universal Resource Identifiers (URI). Chúng thì thường được sử dụng cho cả người
và máy tính.Caches thì thường được sử dụng để nhận biết chúng.
Uniform Resource Locators (URLs) là một dạng thông dụng của URI. Dưới đây là
một vài ví dụ vể URLs
http://www.hut.edu.vn
http://www.oasis-open.org/specs/docbook.shtml
ftp://ftp.freebsd.org/pub/FreeBSD/README.TXT
II.1.6 Các giao thức truyền Web
Cả Client và Server thì thường sử dụng các giao thức vận chuyển khác nhau
để trao đổi thông tin cho nhau.Các giao thức trên được xây dựng chủ yến dựa trên
giao thức TCP/IP. The Hypertext Transfer Protocol (HTTP) là một trong những giao
thức phổ biến nhất hiện nay bởi vì chúng được thiết kế cho Web. Một trong số những
giao thức khác như File Tranfer Protocol (FTP) hay Gopher thì vẫn được sử dụng cho
đến ngày nay. Ngồi ra một số giao thức mới xuất hiện gần đây như Secure Sockét
Layer (SSL) hay Real-time Transport Protocol (RTP) cũng thường xuyên được sử
dụng .
II.2 Định nghĩa Web Caching
Kỹ thuật Web Caching chính là việc chuyển bản copy của các tài liệu Web từ
Web server đến gần với Web client hơn. Nhìn chung, người sử dụng Web client sẽ chỉ
nhận thấy độ trễ rất thấp khi yêu cầu một URL, phía nhà quản lý mạng sẽ nhận thấy ít
lưu lượng hơn và các Web server có số lượng các yêu cầu cung cấp dịch vụ thấp hơn.
Web client yêu cầu tài liệu từ Web server hoặc trực tiếp hoặc thông qua Web cache
server hay proxy. Web cache server có chức nǎng như Web server khi nhìn từ phía
client và có chức nǎng như client khi nhìn từ phía Web server. Chức nǎng của Web
cache server là lưu trữ các tài liệu Web (có thể là các trang HTML, các hình ảnh hoặc
10
Trang 10
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
các tệp tin) tại vị trí gần với người sử dụng để tránh phải chuyển về nhiều lần cùng
một tài liệu qua cùng một kết nối và do đó làm giảm thời gian tải về và tạo ra ít tải
hơn trên các server đầu xa
II.3 Tại sao phải sử dụng Cache đối với Web ?
Đơn giản vì nó tiết kiệm được thời gian cho người duyệt Web. Nó cung cấp
một cách hiệu quả khả năng phân bổ thông tin trên Web. Chúng ta hãy xem xét một ví
dụ thực tế về việc phân bổ sách. Chúng ta hãy suy nghĩ làm sao các cuốn sách được
phân bố tới tay của những độc giả ? Các nhà xuất bản in những cuốn sách và bán
chúng với số lượng lớn tới các nhà bán buôn. Các nhà bán buôn thì lại bán các cuốn
sách với số lượng nhỏ hơn tới các cửa hàng sách. Độc giả có thể đến các cửa hàng
sách và mua các cuốn sách đó. Trên internet thì Web caches cũng hoạt động tương tự
như các cửa hàng sách và các nhà phân phối.
3 lợi ích chính của Web caching
+ Làm cho trang Web được load nhanh hơn (giảm thời gian trễ)
+ Giảm băng thông sử dụng
+ Giảm số lần truy cập lại trên server gốc
II.3.1 Thời gian trễ
Thời gian trễ chính là khoảng thời gian mà dữ liệu được chuyển từ nơi này đến nơi
khác. Một nguồn gốc khác của việc trễ mạng chính là ngẽn mạng. Khi các đường kết
nối đã được sử dụng tối đa thì các gói tin sẽ được xếp hàng trong các Router hay
Switch. Khi các gói tin đã được xếp đầy trong hàng đợi thì nó sẽ loại bỏ tất các các
gói tin tiếp theo đến. Với những giao thức tin cậy như TCP/IP việc mất gói tin thì
tương đương với việc truyền lại gói tin. Vì vậy việc truyền lại sẽ gây mất rất nhiều
thời gian, làm giảm tốc độ của mạng trong việc truyền tin.
II.3.2 Băng thông
Băng thông chính là dung lượng đường truyền mà dữ liệu đi qua. Với mỗi yêu
cầu mà dữ liệu là kết quả trong web caching thì nó sẽ tiết kiệm được băng thông. Khi
đó sẽ không tốn băng thông để dữ liệu truyền từ máy server gốc mà nó lấy luôn dữ
liệu trong cache. Web cache thì giảm băng thông sử dụng bởi các luồng dữ liệu
HTTP. Điều này có thể nói là web cache làm tăng hiệu quả của băng thông. Nếu một
mạng hỗ trơ 100 người dùng khi không có web cache thì sẽ hỗ trợ được 150 người
dùng khi có web cache.
II.3.3 Server Load
Cũng giống như việc giảm băng thông thì việc giảm thời gian khi sử dụng
server gốc. Các server thì đáp ứng liên tục các yêu cầu từ phía các client. Một server
rỗi thì chắc chắn sẽ nhanh hơn so với server bận. Vì vậy chiến lược ở đây là sử dụng
Web caching để giảm thời gian load dữ liệu của các hệ thống server.
II.4 Phân loại Web caching
Nội dung của một trang Web thì có thể được lưu trữ ở nhiều vị trí khác nhau
dọc theo các đường dẫn giữa các client và các server gốc. Đầu tiên các trình duyệt
cũng tự mình xây dựng hệ thống cache trong nó. Người ta gọi nó là Browser caches.
11
Trang 11
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
Tiếp theo là caching proxy (proxy cache) kết hợp tất cả các yêu cầu của các client
thành một nhóm.Cuối cùng một hệ thống đại diện có thể được đặt tại đầu các server
gốc để lưu trữ những đáp ứng thường xuyên.
II.4.1 Browser Caches (Client Cache)
Các trình duyệt thì cũng xây dựng trong nó hệ thống cache. Mỗi khi ta nhấn
nút Back trên trình duyệt thì nó đọc lại cho ta trang ta vừa xem trong cache của nó.
Đối tượng cache có thể là các file tạm thời trên đĩa hoặc có thể là trong bộ nhớ trong.
Trong khi trình duyêt Web Netscape yêu cầu bạn phải xác định xem không
gian đĩa dành cho caching là bao nhiêu. Microsoft thì yêu cầu bạn cần phải điều
khiển kích thước cache dành cho đĩa của bạn là bao nhiêu. Thông thường thì ta
thường sử dụng 10-100 MB không gian đĩa cứng dành cho Browser cache.
II.4.2 Caching Proxy (Server Cache)
Loại cache này nằm trên một server trong mạng lưới gồm nhiều client và
nhiều server. Thông thường, nó không nằm trong cùng một hệ thống chạy một loại
Web client hay một HTTP server nào đó. Không giống như Browser caches, dịch vụ
cache này có thể phục vụ nhiều user cùng một lúc. Khi có nhiều người cùng tới thăm
một website tại một thời điểm thì caching proxies thường được sử dụng hơn Browser
cache.
Caching proxies thì cần thiết đối với rất nhiều tổ chức như các nhà cung cấp
dịch vụ Web, các tổng công ty lớn, các trường đại học, viện nghiên cứu. Caching
Proxies thì thường được đặt ở các gateway (như router) hay nói một cách khác thì nó
thường được sử dụng để có thể phục vụ một số lượng người lớn nhất.
II.5 Web caching hoạt động như thế nào ?
Tất cả các hệ thống cache đều sử dụng một bộ nguyên tắc để xác định thời
điểm cung cấp các đối tượng (hay các tài liệu Web), tất nhiên là với điều kiện các đối
tượng đó đã được lưu trong cache. Trường hợp các đối tượng được yêu cầu chưa
được lưu sẵn trong cache thì cache server sẽ gửi yêu cầu đó đến server gốc. Một số
nguyên tắc được thiết lập trong các giao thức HTTP/1.0, HTTP/1.1 và một số khác
được thiết lập bởi những người quản trị cache (có thể là người sử dụng browser cache
hoặc người quản trị proxy).
II.5.1 Các nguyên tắc chung
+ Nếu phần tiêu đề của đối tượng cho cache biết không phải lưu đối tượng thì cache
không lưu đối tượng đó. Nếu biến logic xác nhận (biến validator) không xuất hiện,
phần lớn các cache sẽ đánh dấu đối tượng là không thể lưu (uncacheable).
+ Nếu đối tượng có yêu cầu nhận thực hay bảo mật, nó sẽ được lưu.
+ Một đối tượng được lưu được coi là còn tươi - "fresh" (có nghĩa là có thể được gửi
tới client mà không cần sự kiểm tra của server gốc)
- Nó có thời gian tồn tại (hoạt động theo dạng một loại bộ đếm) còn nằm trong
khoảng thời gian fresh (chưa quá hạn)
- Nếu một browser cache đã từng hiển thị đối tượng và đối tượng này đã được
đánh dấu là đã kiểm tra trong một phiên trước đó.
12
Trang 12
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
- Nếu proxy cache mới xử lý nó gần đây và nó đã được sửa đổi trước đó tương
đối lâu. Các đối tượng fresh được lấy trực tiếp từ cache mà không cần kiểm tra với
server gốc.
+Nếu một đối tượng được coi là cũ, server gốc sẽ được yêu cầu xác nhận đối tượng
hoặc báo cho cache rằng đối tượng đó vẫn còn giá trị sử dụng.
Quá trình xác nhận và kiểm tra xem đặc tính "fresh" của đối tượng là những biện
pháp quan trọng giúp cache làm việc với các đối tượng. Một đối tượng "mới" sẽ khả
dụng tức thời từ cache, trong khi một đối tượng "phải xác nhận" (validated) sẽ tránh
phải gửi lại một lần nữa từ server gốc nếu nó không có gì thay đổi.
II.5.1.1 HTTP requests
Client thì luôn sử dụng HTTP khi chúng giao tiếp với proxy. Điều này cũng
đúng khi client yêu cầu một FTP hoăc Gopher URL. Client sẽ đưa ra những yêu cầu
không khác nhau là mấy đối với proxy server cũng như đối với server gốc. Trong
trường hợp này thì các yêu cầu được tham chiếu tới proxy được xem như là yêu cầu
proxy HTTP.
II.5.1.2 Yêu cầu đối với server gốc
Trước tiên ta hãy xem một yêu cầu được gửi đến cho server gốc. Giả sử ta yêu
cầu một URL như sau: http://www.nlanr.net/index.html . Khi Client mà không cấu
hình sử dụng proxy thì nó sẽ kết nối trực tiếp tới server gốc (www.nlanr.net) để gửi
yêu cầu này.
GET /index.html HTTP/1.1
Host: www.nlanr.net
Accept: */*
Connection: Keep-alive
Trong thực tế thì yêu cầu này gồm nhiều header hơn so với những gì đã đưa ra
ở trên đây. Ở đây ta thấy rằng URL đã được chia làm 2 phần. Dòng request line(dòng
đầu) chỉ bao gồm thành phần tên của URL. Trong đó phần hostname được xuất hiện
trong phần Host header. Host header là một đặc điểm của HTTP/1.1, nó hỗ trợ
hosting ảo, hay nhiều website logic trên một server vật lý(một địa chỉ IP). Nếu server
gốckhông hỗ trợ domain ảo thì Host header dùng để làm dự trữ.
II.5.1.3 Yêu cầu Proxy
Khi Client giao tiếp với proxy, các yêu cầu cũng không có sự khác biệt so với server
gốc. Tuy nhiên dòng yêu cầu proxy sẽ bao gồm một URL đầy đủ.
GET http://www.nlanr.net/index.html HTTP/1.1
Host: www.nlanr.net
Accept: */*
Proxy-connection: Keep-alive
HTTP đưa ra một sự thật là: yêu cầu và đáp ứng có thể được đưa qua một số
các proxies giứa Client và Server gốc. Một số HTTP header được định nghĩa như là
13
Trang 13
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46
Đồ án tốt nghiệp
end to end(điêm cuối tới điểm cuối) và một số như là hop to hop(điểm tới điểm). End
to end header thì vận chuyển thông tin tới các hệ thống cuối(Client và Server gốc), và
bình thường thì nó không phải được chỉnh sửa bới proxies Cookie header cũng là end
to end. Ngược lại thông tin trong hop to hop header có nghĩa là dành cho các hệ thống
trung gian và nó phải được chỉnh sửa hay di chuyển trước khi được chúng được đưa
đến vị trí mới. Proxy- connection và proxy- authorization header ở dạng hop to hop.
Một Client sử dụng Proxy – connection header để hỏi proxy làm cho TCP kết nối
một cách liên tục bởi vậy chúng được sử dụng lại để cho các yêu cầu khác trong
tương lai. Proxy –authorization header chứa sự ủy nhiệm để có thể truy cập vào
proxy, không phải server gốc.
II.5.1.4 Yêu cầu không phải là HTTP Proxy.
Cuối cùng chúng ta thử xem proxies đối xử với các yêu cầu không phải là
HTTP như thế nào. Đối với các Client thì chúng luôn hỗ trợ các giao thức khác HTTP
như là FTP, HTTPS điều này có nghĩa là chúng chúng luôn biết cách giao tiếp trực
tiếp với các FTP server như thế nào. Tuy nhiên hầu hết các caching proxy không đế ý
về FTP server, chính vì vậy bạn không thể đặt FTP vào trong caching proxy.
II.5.2 Khả năng lưu trữ
Mục đích chính của cache chính là lưu trữ một số các đáp ứng nó nhận được
từ server gốc. Một đáp ứng được gọi là đã được lưu trữ có nghĩa là nó có thể được sử
dụng để đáp ứng được những yêu cầu trong tương lai. Với các luồng dữ liệu yêu cầu
thì khoảng 75% các đáp ứng được lưu trữ.
Cache quyết định lưu trữ bằng việc xem xét các thành phần khác nhau của
yêu cầu và đáp ứng. Nó có thể kiểm tra các thông tin sau:
+ Đáp ứng về bảo mật
+ Các phương thức yêu cầu
+ Đáp ứng Cache-control trực tiếp
+ Các đáp ứng xác thực
+ Các yêu cầu kiểm tra tính xác thực
II.5.2.1 Bảo mật
Một trong những nhân tố để xác định xem có thể lưu trữ đó các đáp ứng về
bảo mật. Ba kí tự chỉ trạng thái bảo mật cho tao biết yêu cầu có được đáp ứng thành
công hay không hay có lỗi xảy ra trong quá trình đáp ứng yêu cầu. Trạng thái bảo mật
chia thành 5 nhóm
1XX: Thông tin quá trình giao dịch đang được tiến hành
2XX: Yêu cầu đã được nhận và đang được xử lý
3XX: Server đang hướng Client tới một vị trí khác
4XX: Có một lỗi xảy ra với yêu cầu của client
Ví dụ như Authentication được yêu cầu, hay tài nguyên yêu cầu không tồn
tại
5XX: Một lỗi xảy ra trên server đối với một yêu cầu của Client
14
Trang 14
Đỗ Hải Nam - KHMT - K46

Xem chi tiết: Web Caching


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét