Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Một số vấn đề hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần khí công nghiệp

Khoá luận tốt nghiệp
nhiều góc độ khác nhau nhng nhìn chung nó đều là sự dịch chuyển vốn- dịch
chuyển giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá.
Việc tìm hiểu rõ khái niệm chi phí sản xuất giúp các nhà quản lí doanh
nghiệp có cái nhìn sâu hơn về bản chất của chi phí sản xuất, từ đó tìm ra biện
pháp hạ thấp chi phí sản xuất đến mức thấp nhất.
1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất.
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản trị doanh
nghiệp là các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hởng
trực tiếp đến lợi nhuận. Do vậy các nhà quản lí cần phải kiểm soát chặt chẽ các
chi phí phát sinh trong doanh nghiệp. Để làm đợc điều này cần thiết phải làm
rõ đợc các cách phân loại chi phí khác nhau, vì mỗi cách phân loại đều cung
cấp thông tin ở mỗi góc độ khác nhau giúp cho nhà quản trị đa ra đợc những
quyết định thích hợp.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất chiếm một tỉ trọng
lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp thì việc quản lí chi phí một cách chặt
chẽ lại càng trở nên quan trọng. Quản lí chi phí sản xuất chính là quản lí việc
sử dụng hợp lí, tiết kiệm các yếu tố cấu thành nên sản phẩm.
Trong thực tế, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại khác nhau về nội
dung kinh tế, về tính chất, về vị trí của nó trong việc tạo ra sản phẩm, về địa
điểm phát sinh chi phí Hạch toán chi phí theo từng loại sẽ nâng cao tính chi
tiết của thông tin kế toán, là cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng
cao hiệu quả kinh tế của chi phí. Tuỳ theo yêu cầu của công tác hạch toán và
quản lí cũng nh nhằm mục đích ra quyết định ngời ta phân loại chi phí theo
những tiêu thức khác nhau nhằm phục vụ cho những mục đích riêng của mình.
1.1.1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất đợc sử dụng trong hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp đều có những công dụng và mục đích riêng. Không phân biệt chi
phí đó có nội dung kinh tế nh thế nào ngời ta xếp chúng vào một nhóm với
mục đích thuận lợi cho việc tính giá thành sau này. Theo cách phân loại này
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
chi phí sản xuất đợc chia ra làm ra ba khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các chi phí về nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích chế tạo sản phẩm.
* Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lơng phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất và các khoản tính trích theo lơng của công nhân trực tiếp sản
xuất( BHXH, BHYT, KPCĐ).
* Chi phí sản xuất chung: bao gồm những khoản chi phí sản xuất trực
tiếp khác ngoài hai khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân
công trực tiếp. Nh vậy nó bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí
nhân công gián tiếp, các loại chi phí phân xởng khác nh: chi phí sửa chữa, bảo
trì, khấu hao TSCĐ, dịch vụ mua ngoài
Do đặc điểm của chi phí sản xuất chung không thể tính trực tiếp vào sản
phẩm nên chúng đợc tính vào sản phẩm thông qua việc phân bổ theo các tiêu
thức hợp lí.
Việc phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí có tác
dụng trong việc quản lí chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác
tính giá thành. Từ đó thấy đợc ảnh hởng của từng loại khoản mục chi phí đến
kết cấu của giá thành sản phẩm, giúp tập hợp chi phí sản xuất một cách đầy
đủ, chính xác. Đồng thời nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết để xác
định phơng hớng và biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên
cách phân loại này cha cho ta thấy đợc chi phí sẽ "phản ứng" nh thế nào khi có
sự thay đổi xảy ra trong mức độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Để thấy
đợc sự thay đổi này ta xem xét cách phân loại sau.
1.1.1.2.2. Phân loại chi phí theo cách "ứng xử" của chi phí.
Cách "ứng xử" của chi phí có nghĩa là các chi phí này tăng giảm nh thế
nào đối với sự thay đổi về mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi mức độ
sản xuất tăng lên hay giảm đi thì chi phí có thể tăng, giảm hoặc giữ nguyên
không đổi. Với mục đích lập kế hoạch ngời quản lí phải có khả năng thấy trớc
đợc điều gì sẽ xảy ra và nếu chi phí có thay đổi phải xác định đợc chúng sẽ
thay đổi bao nhiêu. Để cung cấp cho thông tin này, chi phí đợc phân làm ba
loại:
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
*Chi phí khả biến (biến phí):là những khoản chi phí thay đổi về tổng số,
tỉ lệ với những biến đổi của mức độ hoạt động. Trong doanh nghiệp sản xuất
chi phí khả biến bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và một số khoản chi phí sản xuất chung. Biến phí đợc chia làm 2 loại:
Biến phí tỉ lệ: là những khoản chi phí có quan hệ tỉ lệ thuận trực tiếp với
biến động của mức độ hoạt động căn. Tổng chi phí biến đổi sẽ phụ thuộc vào
sản lợng sản xuất. Do đó khi ta kí hiệu biến phí đơn vị là b, sản lợng sản xuất
là x ta sẽ có phơng trình biến phí là: y=bx.
Biến phí cấp bậc: là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt
động thay đổi nhiều và rõ ràng. Biến phí loại này không thay đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi ít. Nói cách khác biến phí cấp bậc cũng quan hệ tỉ lệ thuận
với mức độ hoạt động nhng không có tính tuyến tính. Thuộc loại này có thể kể
đến nh chi phí cho nhân viên bảo trì
Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến.
CF CF
y=bx b2
b1
bo


0 MĐHĐ MĐHĐ
*Chi phí bất biến (định phí): là những khoản chi phí không biến đổi
hoặc biến đổi không đáng kể khi mức độ hoạt động thay đổi. Đối với doanh
nghiệp sản xuất thì định phí là những chi phí không thay đổi khi sản lợng sản
xuất thay đổi và nó tồn tại ngay cả khi doanh nghiệp không tiến hành sản xuất.
Tuy nhiên định phí vẫn giữ nguyên trong phạm vi giữa số lợng sản phẩm tối
thiểu và tối đa mà doanh nghiệp dự định sản xuất. Khi doanh nghiệp thay đổi
phạm vi tức là mở rộng hay thu hẹp sản xuất thì định phí cũng thay đổi, do đặc
điểm của định phí là: Tổng định phí giữ nguyên khi sản lợng trong phạm vi
phù hợp và định phí trong một sản phẩm thay đổi khi sản lợng thay đổi.
Định phí đợc chia làm hai loại: Định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý,
trong đó:
Định phí bắt buộc là định phí không thể thay đổi đợc một cách nhanh
chóng vì chúng thờng liên quan đến TSCĐ và cấu trúc của tổ chức cơ bản của
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
một doanh nghiệp nh tiền lơng của ban giám đốc. Định phí bắt buộc có bản
chất sử dụng lâu dài và không thể giảm đến số không đợc trong một thời gian
ngắn. Thuộc loại này có thể kể đến nh chi phí khấu hao TSCĐ
Định phí tuỳ ý là định phí có thể đợc điều chỉnh tăng hoặc giảm một
cách tơng đối dễ dàng tuỳ thuộc vào qui mô của hoạt động sản xuất kinh
doanh trong từng thời kì, chẳng hạn nh chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo nhân
viên
Khái niệm định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý chỉ là khái niệm tơng đối,
tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan của các nhà quản trị doanh nghiệp. Có
những nhà quản trị nhìn nhận một khoản định phí nào đó là bắt buộc nên rất
ngần ngại khi phải điều chỉnh. Ngợc lại có những nhà quản trị lại cho rằng
định phí nào đó là tuỳ ý nên thờng xuyên xem xét lại và điều chỉnh khi có điều
kiện.
Đồ thị biểu diễn định phí:
CF CF
y=A
0 MĐHĐ 0 MĐHĐ
Chi phí khả biến và chi phí bất biến chỉ mang tính chất tơng đối. Chi phí
bất biến chỉ có thể xác định khi qui mô sản xuất đã tơng đối ổn định. Khi qui
mô sản xuất thay đổi thì chi phí bất biến cũng thay đổi theo.
* Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố
định phí lẫn yếu tố biến phí. ở mức độ hoạt động căn bản chi phí hỗn hợp thể
hiện đặc điểm của định phí còn quá mức độ đó lại thể hiện đặc tính của biến
phí. Ví dụ chi phí sản xuất chung có đặc điểm của chi phí hỗn hợp, cụ thể:
Tiền thuê máy móc, thiết bị hoặc chi phí điện thoại gồm 2 phần: Phần định phí
hàng tháng và phần biến phí theo số giờ máy sử dụng.
Nhờ cách phân loại chi phí này, ngời ta có thể đánh giá chính xác hơn
tính hợp lí của chi phí sản xuất chi ra, mặt khác nó là cơ sở quan trọng để xác
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
định sản lợng hoà vốn và là cơ sở để xây dựng chính sách giá hợp lí, linh hoạt.
Sự hiểu biết về cách "ứng xử" của chi phí là chìa khoá để ra quyết định trong
các doanh nghiệp. Vì hiểu đợc chi phí "ứng xử" nh thế nào thì ngời quản lí sẽ
có khả năng tốt hơn trong việc dự toán các chi phí cho các trờng hợp thực hiện
khác nhau, từ đó tìm ra đợc biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm, tận dụng năng lực sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.1.1.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ và khả năng tập hợp cho các
đối tợng chịu chi phí.
*Chi phí trực tiếp còn đợc gọi là chi phí có thể tách biệt, phát sinh
một cách riêng biệt trong một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp. Nó thay đổi
tỉ lệ thuận với số lợng, chất lợng sản phẩm sản xuất ra. Chi phí sản xuất trực
tiếp bao gồm:
- Vật liệu chính, vật liệu phụ trực tiếp dùng vào sản xuất sản phẩm.
- Nhiên liệu, động lực dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm.
- Tiền lơng, BHXH của lao động trực tiếp.
- Giá trị công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất.
- Chi phí trực tiếp khác bằng tiền.
*Chi phí gián tiếp là loại chi phí không thể tách biệt cho một hoạt
động cụ thể nào và cùng một lúc có liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau.
Cuối kì chi phí gián tiếp phải đợc phân bổ theo những phơng pháp riêng.
Thuộc loại này gồm có chi phí cho hoạt động quản lí của doanh nghiệp nh: chi
phí lơng giám đốc, quản đốc, chi phí khấu hao TSCĐ
Do mỗi loại chi phí có tác dụng khác nhau đến số lợng sản phẩm sản
xuất ra nên việc hạch toán chi phí theo hớng phân định rõ ràng chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp là một việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá
tính hợp lí của chi phí sản xuất. Cách phân loại này có ý nghĩa lớn đối với việc
xác định phơng pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tợng chịu
chi phí một cách đúng đắn, hợp lí.
1.1.1.2.4. Một số các cách phân loại chi phí khác nhằm mục đích ra quyết định.
Trong doanh nghiệp việc đa ra đợc một quyết định đúng đắn có ảnh h-
ởng trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, sự tồn tại và phát triển
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
của doanh nghiệp đó. Một quyết định đúng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế, ngợc
lại nếu quyết định sai có thể sẽ đa doanh nghiệp đến bờ vực phá sản. Để đáp
ứng yêu cầu này ngời ta phân chi phí sản xuất ra thành các loại nh:
*Chi phí kiểm soát đợc và chi phí không kiểm soát đợc.
-Chi phí kiểm soát đợc ở một cấp quản lí nào đó là chi phí mà cấp đó có
thẩm quyền ra quyết định. Nh vậy các nhà quản lí cấp cao có phạm vi, quyền
hạn rộng đối với chi phí hơn các nhà quản trị cấp thấp, họ có nhiều quyền kiểm
soát và quyết định chi phí hơn.
-Ngợc lại, những chi phí mà cấp đó không có thẩm quyền ra quyết định
gọi là chi phí không kiểm soát đợc.
Việc phân loại này có tác dụng trong việc đa ra các thông tin trên báo
cáo lỗ lãi của các bộ phận chính xác hơn, có ý nghĩa hơn khi họ chỉ liệt kê vào
báo cáo những chi phí kiểm soát đợc bởi bộ phận mình và loại bỏ những chi
phí bộ phận mình không kiểm soát đợc.
* Chi phí chênh lệch (chi phí sai biệt).
Để thực hiện chức năng ra quyết định, nhà quản trị thờng phải lựa chọn,
so sánh nhiều phơng án khác nhau. Mỗi phơng án bao gồm những khoản chi
phí riêng có thể khác nhau về qui mô và các yếu tố. Những khoản chi phí nào
có mặt ở dự án này mà không có ở dự án khác hoặc chỉ có một phần thì đợc
gọi là chi phí chênh lệch.
* Chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất khi lựa chọn phơng án và hành động này
thay vì phơng án và hành động khác. Trong kinh doanh chi phí cơ hội không đ-
ợc phản ánh trên sổ sách kế toán nhng lại rất quan trọng, cần đợc xem xét kĩ
khi lựa chọn phơng án kinh doanh.
* Chi phí chìm.
Đây là những khoản phí mà doanh nghiệp bắt buộc phải chịu khi lựa
chọn phơng án kinh doanh nào. Chi phí chìm thờng liên quan đến khấu hao
TSCĐ.
Trên đây là một số các cách phân loại chi phí phổ biến nhất hiện nay.
Việc nghiên cứu xem xét các cách phân loại chi phí có tác dụng nâng cao tính
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
chi tiết của thông tin hạch toán. Nhng để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm một cách có hiệu quả thì ngoài việc hiểu rõ bản chất, khái
niệm, các cách phân loại chi phí điều quan trọng tiếp theo là phải nghiên cứu
bản chất và các loại giá thành cũng nh mối quan hệ giữa chi phí và giá thành là
nh thế nào.
1.1.2. Giá thành sản phẩm và các loại giá thành.
1.1.2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm.
Trong sản xuất, chi phí sản xuất mới chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí.
Để đánh giá đợc chất lợng sản xuất kinh doanh của tổ chức kinh tế, chi phí
phải đợc xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản của
quá trình sản xuất đó là kết quả sản xuất thu đợc, quan hệ so sánh đó hình
thành nên giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thể hiện qua các
mặt hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, là thớc đo mức tiêu
hao để bù đắp chi phí trong quá trình sản xuất, là một căn cứ xây dựng phơng
án giá thành sản phẩm của kì kế hoạch.
Giá thành đợc tính toán xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ cụ thể
và chỉ tính toán với số lợng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành trong quá
trình sản xuất (thành phẩm) hoặc kết thúc một giai đoạn sản xuất ( bán thành
phẩm ).
Giá thành sản phẩm trong một chừng mực nhất định nó vừa mang tính
chủ quan lại vừa mang tính khách quan. Vì vậy, chúng ta phải xem xét giá
thành trên nhiều góc độ khác nhau nhằm sử dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu
quả nhất.
Giá thành là biểu hiện bằng tiền giá trị t liệu sản xuất và sức lao động
kết tinh trong một đơn vị sản phẩm hàng hoá, vì vậy nó mang tính khách quan
do sự di chuyển và kết tinh này là tất yếu. Việc tính toán, đo lờng và biểu hiện
chúng bằng tiền chỉ là phản ánh của quản lí mà thôi.
Mặt khác giá thành là một đại lợng đợc tính toán trên cơ sở chi phí sản
xuất chi ra trong kì nên nó là chỉ tiêu có sự dao động nhất định. Trên góc
độ này giá thành mang tính chủ quan. Đặc điểm chủ quan này thể hiện trên hai
khía cạnh:
Thứ nhất giá thành là biểu hiện bằng tiền của các t liệu sản xuất và sức
lao động đã hao phí để sản xuất ra một khối lợng sản phẩm nhất định. Vì vậy
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
việc áp dụng các biện pháp đánh giá khác nhau ở từng doanh nghiệp cũng làm
cho giá thành sản phẩm mang tính chủ quan nhất định.
Thứ hai giá thành đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất. Những chi phí đ-
ợc tập hợp vào giá thành phải tuân theo qui định chung của kế toán. Không
phải bất cứ chi phí nào cũng đợc hạch toán vào chi phí sản xuất để tính giá
thành sản phẩm. Chẳng hạn trớc kia chi phí quản lí và chi phí bán hàng cũng đ-
ợc tập hợp vào giá thành giá thành nhng từ năm 1995 trở lại đây theo chế độ
kế toán mới thì hai khoản chi phí này đợc coi nh những khoản phí tổn mà
doanh nghiệp phải chịu, do vậy nó làm cho giá thành sản phẩm dao động theo.
Nh vậy bản chất của giá thành sản phẩm là việc dịch chuyển giá trị các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất vào sản phẩm đã hoàn thành.
Từ việc nghiên cứu bản chất của giá thành sản phẩm ta có thể đi đến
một khái niệm chung nhất về giá thành sản phẩm nh sau: Giá thành sản phẩm
là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến khối lợng công việc, sản phẩm, lao vụ
đã hoàn thành.
1.1.2.2. Các loại giá thành.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lí, hạch toán và kế hoạch hoá giá
thành cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới
nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau.Về lí luận cũng nh trên thực
tế tại các doanh nghiệp chỉ tiêu giá thành thờng có ba loại:
1.1.2.2.1. Giá thành kế hoạch.
Việc tính toán xác định giá thành kế hoạch đợc tiến hành trớc khi tiến
hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm do bộ phận kế hoạch thực hiện. Giá
thành kế hoạch đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và đợc xem là
mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
1.1.2.2.2. Giá thành định mức.
Cũng giống nh giá thành kế hoạch, việc tính giá thành định mức cũng có
thể thực hiện trớc khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên khác với
giá thành kế hoạch đợc xây dựng trên các định mức bình quân tiên tiến và
không đổi trong suốt kì kế hoạch thì giá thành định mức lại đợc xây dựng trên
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kì kế
hoạch nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các
chi phí đạt đợc trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành định
mức luôn đợc xem nh là thớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng các
loại tài sản, vật t, tiền vốn trong doanh nghiệp, để đánh giá các giải pháp mà
doanh nghiệp đã áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng chi phí.
1.1.2.2.3. Giá thành thực tế.
Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ
chỉ đợc xác định khi quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm đã hoàn thành và dựa
trên cơ sở số liệu sản xuất thực tế đã phát sinh tập hợp đợc trong kì.
Giá thành thực tế của sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết
quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp
kinh tế - tổ chức kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất, là cơ sở để xác định
giá trị sản phẩm, giá bán thành phẩm và để xác định kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ba loại giá thành chủ yếu trên đây thì còn có cả giá thành phân
xởng( giá thành công xởng, giá thành sản xuất) và giá thành toàn bộ( giá thành
tiêu thụ) trong đó:
Giá thành công xởng là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh
liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng sản
xuất ( chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung).
Giá thành toàn bộ là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, chi phí
quản lí và chi phí bán hàng).
Việc nghiên cứu chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho ta thấy
đợc mối quan hệ của chúng trong quá trình sản xuất
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí là biểu hiện mặt hao phí
còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt
thống nhất của một quá trình, vì vậy chúng giống nhau về mặt chất. Tuy nhiên
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kì không đều nhau nên giá thành và chi
phí sản xuất lại khác nhau về lợng. Đợc tính vào chỉ tiêu giá thành sản phẩm
chỉ có những chi phí gắn liền với sản phẩm hay khối lợng công việc đã hoàn
thành không kể chi phí sản xuất đã chi ra trong kì kinh doanh nào.
Do lợng chi phí sản xuất kì trớc chuyển sang kì này thờng không nhất trí
với lợng chi phí sản xuất kì này chuyển sang kì sau nên tổng giá thành kì này
thờng không bằng tổng chi phí đã chi ra trong kì đó.
Trên góc độ biểu hiện bằng tiền, chi phí sản xuất cũng khác với giá
thành sản phẩm. Đặc biệt trong các doanh nghiệp sản xuất, không bao gồm
những chi phí đã chi ra trong kì nhng còn chờ phân bổ dần cho kì sau, đồng
thời phải cộng thêm các khoản chi phí thực tế cha phát sinh trong kì nhng đợc
tính trớc vào giá thành và chi phí đã chi ra kì trớc cha phân bổ kết chuyển
sang.
Nh vậy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không chỉ khác nhau về nội
dung này còn khác nhau về thời điểm phát sinh chi phí hình thành nên chúng.
Do đó công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
doanh nghiệp có vai trò nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
1.1.4. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán với việc quản lí chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trờng, việc đa ra đợc những thông tin chính xác,
kịp thời là điều kiện tiên quyết giúp nhà quản trị điều hành công việc của
mình. Kế toán chính là công cụ của quản lí giúp đa ra những con số biết nói,
nắm bắt lợi thế cạnh tranh trong sản xuất, đặc biệt là cạnh tranh giá bán sản
phẩm từ đó đa ra đợc các quyết định đúng đắn khi kí kết các hợp đồng sản xuất
hay đơn đặt hàng.
Để làm tốt điều này kế toán phải tổ chức hạch toán một cách khoa học
hợp lí, kiểm tra kiểm soát thờng xuyên, liên tục có hệ thống nguyên tắc tiết
kiệm trong sản xuất. Để thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin cho việc
quản lí chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm kế toán phải thực hiện một số
nhiệm vụ sau đây:
Nguyễn thị Ngọc Ngoan Lớp k10kt1-khoa kinh tế

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét